Thursday, April 30, 2015

Thái Miếu

Du Lịch Huế - Thái Miếu (tức Thái Tổ Miếu) là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc đông nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía tây nam.

Địa điểm: Nằm trong khu vực Hoàng Thành Huế.

Thái Miếu (tức Thái Tổ Miếu) là miếu thờ các vị chúa Nguyễn, từ Nguyễn Hoàng đến Nguyễn Phúc Thuần. Miếu được xây dựng từ năm Gia Long 3 (1804) ở góc đông nam trong Hoàng thành, đối xứng với Thế Tổ Miếu ở phía tây nam.



Qui mô và bố trí kiến trúc của Thái Miếu gần tương tự như Thế Miếu. Tòa điện chính kiến trúc theo lối nhà kép trùng thiềm điệp ốc, chính đường 13 gian 2 chái kép, tiền đường 15 gian 2 chái đơn. Phía đông điện chính là điện Long Đức, phía nam có điện Chiêu Kính. Đối diện với điện Chiêu Kính ở phía tây là điện Mục Tư, phía bắc điện này có tòa nhà vuông. Trước sân Thái Miếu có gác Tuy Thành (tên cũ là gác Mục Thanh), 3 tầng, hình thức tương tự như gác Hiển Lâm ở Thế Miếu. Hai bên gác Tuy Thành có tường ngắn, trên có lầu chuông, lầu trống, dưới trổ cửa vòm. Phía nam của gác Tuy Thành, 2 bên có nhà Tả Vu, Hữu Vu. Toàn bộ khu vực Thái Miếu có tường gạch bao bọc, trổ 5 cửa ra các phía. Các án thờ của chúa Nguyễn đều đặt trong tòa điện chính, bài vị phối thờ các công thần đặt ở Tả Vu và Hữu Vu. Lễ tế tổ chức 1 năm 5 lần vào các tháng manh xuân, manh hạ, mạnh thu, mạnh đông và quý đông.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đầu năm 1947, khu vực Thái Miếu gần như bị thiêu hủy hoàn toàn. Năm 1971-1972, hội đồng trị sự Nguyễn Phước Tộc đã quyên góp và dựng lại 1 tòa nhà 5 gian trên nền cũ ngôi điện chính để làm nơi thờ tự các chúa Nguyễn.

Tuesday, April 28, 2015

Thiên hạ đệ nhất hùng quan

Du Lịch Huế - Lừng lững tọa lạc giữa mây ngàn gió lộng gần hai thế kỷ, công trình Hải Vân Quan với vọng gác, cổng thành… là một điểm nhấn trên đỉnh Thiên hạ đệ nhất hùng quan Hải Vân.



Hải Vân Quan nằm trên cung đường quốc lộ 1A. Ảnh: X.T

Đèo Hải Vân có chiều dài 21 cây số vượt qua những rặng núi thuộc dãy Trường Sơn vươn ra sát biển, nằm giữa tỉnh Thừa Thiên - Huế (phía Bắc) và thành phố Đà Nẵng (phía Nam). Có độ cao 496 mét so với mực nước biển, trên đỉnh đep gần như lúc nào cũng có sương mù bao phủ.

Đèo Hải Vân được xem như một thành lũy thiên nhiên trong việc phân định khí hậu, hành chính văn hóa. Chuẩn định từ Hải Vân trở ra Bắc thuộc quản hạt Thừa Thiên, từ ngoài Hải Vân trở vào Nam thuộc quản hạt Quảng Nam trước đây (mà bây giờ là giữa Thừa Thiên Huế và TP.Đà Nẵng).

Như góp thêm vào vai trò ranh giới của đèo Hải Vân là sự hiện diện của cửa ải Hải Vân Quan. Theo sách Đại Nam thực lục chính biên, Hải Vân quan được xây dựng vào năm Bính Tuất (1826), niên hiệu Minh Mạng thứ 7. Phía trước, phía sau đều đặt một cửa quan (Ngạch trước viết ba chữ “Hải Vân quan”, ngạch sau viết 6 chữ “Thiên hạ đệ nhất hùng quan”.

Cửa trước cao và dài đều 15 thước, ngang 17 thước 5 tấc, cửa sau cao 15 thước dài 11 thước, ngang 18 thước 1 tấc, cửa tò vò đều cao 10 thước 8 tấc, ngang 8 thước 1 tấc. Phía tả hữu cửa quan, xếp đá làm tường, trước sau tiếp nhau.

Cổng đá nay vẫn còn trên đỉnh đèo và được công nhận là di tích lịch sử cấp quốc gia.

Hải Vân Quan nằm trên đỉnh của đèo Hải Vân - một danh thắng được xem là "Thiên hạ đệ nhất hùng quan".


Hải Vân Quan là môt công trình được xây dựng cách đây gần 200 năm bao gồm tường thành, vọng gác.


Cửa ải được xây bằng đá và gạch.


Ba chữ Hải Vân Quan được trạm bằng đá.


Công trình có lối kiến trúc như những thành quách khác như: thành xây theo lối vuông vức, cổng theo lối vòm. Phía trên có tầng riêng, có cửa sổ để hướng ra ngoài.


Từ trên tháp của Hải Vân Quan bao quát được việc đi lại qua đèo Hải Vân.

Từ hồ Tịnh Tâm đến Trung tâm văn hóa Tịnh Tâm

Du Lịch Huế - Hồ Tịnh Tâm nằm ở đông bắc Hoàng Thành, bên con đường Đinh Tiên Hoàng từ Thượng Tứ vào Mang Cá. Nguyên trước đây là con sông chảy qua, vua Gia Long chặn lại tạo thành hồ và đặt tên là hồ Ký Tế. Đến năm Minh Mạng thứ 19, vua cho đổi tên là hồ Tịnh Tâm. Hồ được tu bổ xây dựng thành một danh thắng, xung quanh có tường thấp bao bọc, giữa hồ đắp lên 3 hòn đảo là Bồng Lai, Phương Trượng và Dinh Châu. Hồ được ngăn đôi bằng con đường Đông Tây ở giữa. Trên các đảo là lầu, đài ngang dọc, khắp mặt hồ trồng sen.

Từ hồ Tịnh đến Trung tâm văn hóa Tịnh Tâm

Thời gian và chiến tranh, những công trình kiến trúc ở Tịnh Tâm hầu như không còn lại gì. Nhà cửa chỉ còn lại nền móng, hồ đã cạn đi rất nhiều vì cả trăm năm không được nạo vét, hồ trồng sen chỉ lác đác, chủ yếu là rau muống, nhưng thương hiệu sen Hồ Tịnh vẫn vang mãi trong nhiều người nên người ta thường mang hạt sen bán quanh hồ. Nhiều người vẫn thích mua sen ở đây như một hoài niệm đẹp.

Đẩy lùi hoang phế, đưa hồ Tịnh trở lại một danh thắng của Huế là tâm tư của nhiều người. Nhưng nó chỉ dễ dàng ở những địa phương có tiềm lực kinh tế mạnh, chỉ việc rà phá bom mìn để nạo vét lòng hồ cũng là điều không hề đơn giản. Ý thức điều đó, Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế trong điều kiện của mình đang từng bước khôi phục lại danh thắng này. Nếu ở kỳ Festival Huế 2010, Tịnh Tâm là một sân khấu dưới nước thì Festival Huế 2012, Tịnh Tâm trở thành một điểm sinh hoạt văn hóa, thư giãn của người dân. Hồ được dọn sạch rau muống, bèo hoang và trồng lại sen, cỏ dại lau lách bên hồ được tổng vệ sinh, sự hoang phế trên các đảo được chỉnh trang bằng đường dạo, cây cảnh. Nhiều sinh hoạt văn hóa được mở ra, như cơm chay, biểu diễn võ thuật, cờ người, ca Huế, trình diễn phong lan, chim cảnh; giải khát đặc biệt là thưởng thức trà sen Hồ Tịnh chính hiệu.
Đầu tư chưa nhiều nhưng vẻ đẹp của Tịnh Tâm từng bước được phát triển. Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế cũng như những người có trách nhiệm ở Tịnh Tâm đang có những ý đồ lớn hơn. Nếu vườn Cơ Hạ trở thành sân chim thì sân chim đó sẽ được mở rộng đến hồ Tịnh Tâm và hồ Học Hải.
Những việc cần bắt tay ngay

Để hồ Tịnh Tâm trở thành Trung tâm văn hóa Tịnh Tâm là một việc làm không đơn giản, cần những bước đi cẩn trọng. Những nỗ lực vừa qua là điều đáng mừng và kết quả mới chỉ là động lực đầu tiên cho nỗ lực phục hồi. Hồ Tịnh Tâm không thể để tiếp tục bị xâm hại, chủ mới xác định đây là một danh thắng đắc địa của Kinh thành Huế.

Trước hết, nổi tiếng hồ Tịnh là sen, thành ra hồ Tịnh phải nhất thiết trồng sen. Từ sen những đặc sản hồ Tịnh, như trà sen, hạt sen, chè sen... phải được khôi phục. Nhưng để trồng sen được, hồ phải rà phá bom mìn, phải giải quyết vấn đề ô nhiễm bằng cách xử lý chất thải sinh hoạt trước khi đổ vào hồ, tiếp đến, ai cũng biết xung quanh hồ Tịnh là khu dân cư vì vậy các đường quanh hồ phải được hoàn chỉnh thiết kế đường phố, bảo đảm có sự phân cách rõ ràng giữa khuôn viên di tích và khu dân cư. Từ đó, mở ra cơ hội cho người dân phát triển các hoạt động dịch vụ, phục vụ cho du khách tham quan, thư giãn ở đây.

Xa hơn mở rộng không gian hồ Tịnh Tâm, bao gồm hồ Học Hải, lầu Tàng Thơ, Tịnh Tâm Kim Cổ trở thành một cụm du lịch liên hoàn, thống nhất.

Vui gì hơn mỗi sáng thể dục thả bộ quanh Đại Nội, dừng lại Tịnh Tâm uống một tách trà sen. Nghiền ngẫm hai chữ Tịnh Tâm tỏa ngát mùi Thiền. Huế không hớp hồn người sao được...?

Tham quan Ngọ Môn kinh thành Huế

Du Lịch Huế - Ngọ Môn có nghĩa là chiếc cổng xây mặt về hướng Ngọ, tuy nhiên nó là một chiếc cổng đặc biệt bởi quy mô khá đồ sộ và kiến trúc độc đáo. Đồng thời, đây là một vị trí rất thuận lợi để du khách chiêm ngưỡng khung cảnh kinh thành Huế



Kinh thành Huế là tòa thành ở cố đô Huế, nơi đóng đô của vương triều nhà Nguyễn trong suốt 140 năm (1805-1945). Hiện nay, kinh thành Huế là một trong số các di tích thuộc cụm Quần thể di tích cố đô Huế được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới. Đến thăm kinh thành Huế, ấn tượng đầu tiên là Ngọ Môn, là cổng chính phía Nam và lớn nhất trong 4 cổng chính của kinh thành Huế.

Về mặt kiến trúc, Ngọ Môn có kiến trúc tương tự Ngọ Môn ở cố cung Bắc Kinh nhưng vẫn thể hiện rõ phong cách kiến trúc dân tộc Việt Nam. Ngọ Môn có hai phần chính là Đài - cổng và lầu Ngũ Phụng. Phần Đài - cổng có bình diện hình chữ U vuông góc, đáy dài 57,77m, cạnh bên dài 27,06m. Đài được xây bằng gạch đá, kết hợp với các thanh dầm chịu lực bằng đồng thau. Đài cao gần 5m, diện tích chiếm đất hơn 1.560m2. Thân đài trổ 5 lối đi. Lối đi chính giữa chỉ dành cho vua đi. Hai lối bên là tả Giáp Môn và hữu Giáp Môn dành cho quan văn, quan võ theo cùng trong đoàn Ngự đạo. Hai lối đi bên ngoài cùng nằm ở hai cánh chữ U là tả Dịch Môn và hữu Dịch Môn dành cho binh lính và voi ngựa theo hầu.

Lầu Ngũ Phụng là phần lầu đặt phía trên Đài - cổng. Ngoài phần thân đài, lầu còn được tôn cao bởi một hệ thống nền cao 1,15m cũng chạy suốt thân đài hình chữ U. Lầu Ngũ Phụng có hai tầng, kết cấu bộ khung hoàn toàn bằng gỗ lim với chẵn 100 cây cột. Mái tầng dưới nối liền nhau, chạy vòng quanh để che cho phần hành lang. Mái tầng trên chia làm 9 bộ với rất nhiều hình chim phụng trang trí ở phần bờ nóc, bờ quyết, khiến tòa lầu trông rất nhẹ nhàng, thanh thoát. Bộ mái chính giữa của lầu Ngũ Phụng lợp ngói lưu ly màu vàng, tám bộ còn lại lợp ngói lưu ly màu xanh.

Không chỉ có được kiến trúc độc đáo, Ngọ Môn còn là nơi khiến du khách gợi nhớ về một bề dày lịch sử phong kiến qua sự giới thiệu ngọt ngào của cô hướng dẫn viên. Tòa lầu này có địa thế rất đặc biệt. Đứng trên lầu Ngũ Phụng là một nơi rất thuận lợi để du khách chiêm ngưỡng khung cảnh xung quanh kinh thành Huế. Hướng mắt ra phía trước, giữa một khoảng không rộng lớn là lá cờ đỏ sao vàng bay phất phới trên ngọn Kỳ Đài. Đây là một công trình kiến trúc tương đối lớn, là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Ngày 23/8/1945, lá cờ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa lần đầu tiên được tung bay tại đây, báo hiệu sự chấm dứt chế độ quân chủ. Kỳ Đài không chỉ là công trình kiến trúc đặc sắc, mà còn là một biểu tượng của cố đô Huế. Khoảng giữa Kỳ Đài và Ngọ Môn là Quảng trường Ngọ Môn. Nhìn vào phía trong là Điện Thái Hòa được dẫn vào bằng chiếc cầu Trung Đạo bắc ngang hồ Thái Dịch, tiến đến sân Đại Triều.

Ngọ Môn là một trong những công trình kiến trúc cổ tiêu biểu của miền quê núi Ngự, sông Hương. Mặc dù, công trình này đã trải qua hơn một thế kỷ rưỡi chịu bão táp của thiên nhiên và chiến tranh tàn phá, nhưng nhờ có kỹ thuật xây dựng khéo léo và nghệ thuật kiến trúc thành thạo mà vẫn đứng vững với thời gian. Chúng ta hãy một lần đến thăm kinh thành Huế để một lần tận mắt nhìn thấy nơi ở của triều đại phong kiến và tìm về với lịch sử dân tộc. Ngọ Môn là nơi chứng kiến nhiều sự kiện lịch sử quan trọng. Nơi đây ngày xưa vẫn thường diễn ra các lễ lạt quan trọng nhất của triều Nguyễn như lễ Ban sóc (ban lịch mới), Truyền lô (tuyên đọc tên tiến sĩ tân khoa). Ngày 25/8/1945, tại cửa Ngọ Môn, vua Bảo Đại, vị vua cuối cùng của Việt Nam, đã đọc tuyên ngôn thoái vị trao chính quyền lại cho chính phủ lâm thời Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Monday, April 27, 2015

Tiếp tục tìm thấy bia Tây Lãnh Thang Hoằng trong lòng hồ Tả Trạch

Du Lịch Huế - Ngày 17.11, ông Phan Thanh Hải - Giám đốc Trung tâm Bảo tồn di tích cô đô Huế (TTBTDTCĐ Huế) - cho biết, sau khi phát quang khu vực suối nước nóng trong lòng hồ Tả Trạch (thuộc xã Dương Hòa, TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế), các cán bộ của trung tâm đã tìm thấy thêm tấm bia Tây Lãnh Thang Hoàng, khắc tháng 7 nhuận, năm 1843 thời vua Thiệu Trị.

Trước đó, vào ngày 9.11, như Thanh Niên đã thông tin, trong quá trình thi công hồ Tả Trạch ở thượng nguồn sông Hương (thuộc xã Dương Hòa, TX.Hương Thủy, Thừa Thiên-Huế), cơ quan chức năng đã phát hiện hai tấm bia đá ghi dấu 1 trong 20 cảnh đẹp chốn Thần kinh (Thần kinh nhị thập cảnh) tại suối nước nóng trong lòng hồ này.


Bia Tây Lãnh Thang Hoằng vừa được tìm thấy gần hai bia cổ phát hiện trước đó trong lòng hồ Tả Trạch - Ảnh do ông Phan Thanh Hải cung cấp

Kết quả khảo sát của Bảo tàng Cổ vật Cung đình Huế (thuộc TTBTDTCĐ Huế) cũng đã ghi nhận tại khu vực suối nước nóng, cách trung tâm TX.Hương Thủy chừng 15 km theo đường chim bay, đã xuất lộ hai tấm bia, trong đó tấm bia lớn tuy còn nguyên vẹn nhưng mặt bia đã bị bào mòn không còn tìm thấy chữ, trong khi tấm bia nhỏ (kích cỡ 67x43x9 cm) lại bị gãy phần dưới thân, đã xác định được đây là bia Lãnh Giản (khe lạnh) được lập vào tháng 3 năm Minh Mạng thứ 18 (tức năm 1837).

Hai tấm bia được phát hiện đã khẳng định khu vực suối nước nóng này đúng là thắng cảnh thứ 20 của đất Thần kinh một thuở.

Theo ông Phan Thanh Hải, trong 20 thắng cảnh Huế xưa do vua Thiệu Trị đề vịnh được Bộ Công vẽ tranh minh hoạ, có 8 thắng cảnh nằm trong cung và vườn ngự, đều được khắc thơ lên bảng đồng; 12 thắng cảnh khác nằm rải rác tại kinh đô Huế và đều được khắc thơ lên bia đá. Việc phát hiện bia Tây Lãnh Thang Hoằng của vua Thiệu Trị càng khẳng định thêm vị trí của thắng cảnh thứ 20 trong Thần kinh nhị thập cảnh.

Như vậy, ngoài ba tấm bia đã được tìm thấy, vẫn còn một bia cổ nữa là bia Thanh Giản (khe trong) được dựng thời Minh Mạng sẽ được trung tâm tiếp tục tìm kiếm để đưa về bảo tàng nhằm bảo quản và phục vụ công tác bảo tồn, trưng bày trước khi hồ Tả Trạch tích nước vào cuối năm nay.

Theo Bùi Ngọc Long

Làng hoa giấy Thanh Tiên

Du Lịch Huế - Xuân về, tết đến, nhà nhà tràn ngập trong màu sắc của hoa, của câu đối, của “ mâm ngũ quả”, của quần áo mới. Góp phần cho sự phong phú của đa sắc màu ấy là những bông hoa giấy trang nhã, lịch sự trong phòng khách không kém gì hoa thật; đầy tôn nghiêm trên bàn thờ gia tiên, bàn thờ ông Táo…

Hoa giấy như một phần không thể thiếu vào ngày tết, đặc biệt là ở Cố đô Huế - Kinh đô của chế độ phong kiến cuối cùng ở nước ta.

Người dân Huế coi trọng việc thờ cúng tổ tiên, am miếu, chùa chiềng như một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần, đời sống tâm linh. Vì vậy cũng dễ hiểu vì sao ở Huế lại có tranh làng Sình, hoa giấy Thanh Tiên để phục vụ, tô điểm thêm màu sắc cho bàn thờ gia tiên của mọi gia đình.

Làng hoa giấy Thanh Tiên thuộc xã Phú Mậu huyện Phú Vang tỉnh Thừa Thiên Huế ra đời gần 400 năm trước dưới thời các Chúa Nguyễn. Nhưng mãi cho đến 1802 mới được mọi người biết đến.

Hình ảnh : bee.net.vn

Năm đó, sau khi vua Gia Long thống nhất đất nước, nhân lễ Thượng tuần, nhà vua ban chiếu đề nghị mỗi một trấn đem về Kinh một loài hoa quý để dâng lên vua. Lúc này trong triều đình có một vị Quan, người làng Thanh Tiên, làm ở Bộ Lễ chức Tả Hữu Đồng Nghị, dâng lên nhà vua một loài hoa ngũ sắc với đầy ý nghĩa độc đáo tượng trưng đầy đủ đạo lý Tam Cương - Ngũ Thường: “Mỗi cành bao giờ cũng có 8 hoa chính. Ba cành hoa ở giữa tượng trưng cho Trung - Hiếu- Nghĩa. Trong đó luôn luôn có một chiếc hoa màu vàng hoặc màu đỏ được làm to nhất tượng trưng cho Mặt trời, đấng minh quân, còn 5 bông hoa hai bên tượng trưng cho Nhân - Lễ - Nghĩa - Trí - Tín”. Khi nghe trình bày hết ý nghĩa của loại hoa giấy Thanh Tiên, vua lấy làm thích thú, và sau đó ban chiếu khuyến khích người dân làng Thanh Tiên làm hoa giấy để bày biện, bán lên kinh đô và phổ biến nghề làm hoa giấy cho mọi người biết. Từ đó, nghề làm hoa giấy của làng nổi tiếng khắp đất nước.

Hoa giấy Thanh Tiên tỏa khắp phố phường, làng quê - Hình : bee.net.vn

Hoa giấy Thanh Tiên tuy đơn giản nhưng làm lại không dễ, bởi ngoài sự khéo tay, người thợ phải có óc thẩm mỹ mới có thể cho ra đời những sản phẩm đẹp và tinh tế. Đặc biệt, phải đòi hỏi ở người thợ đức tính kiên trì, cần mẫn. Ưu điểm của hoa giấy Thanh Tiên chính là sự phong phú về màu sắc và có nhiều loại hoa khác nhau trên một cây bông, hình thức đẹp, để được lâu lại thể hiện sự trang nghiêm, một năm chỉ thay một lần vào dịp tết nên nó dễ được chấp nhận và tồn tại dài lâu.

Hằng năm, đầu tháng Chạp, người dân làng Thanh Tiên đã bận rộn với việc chăm chút từng nhành hoa để kịp đón xuân về, tết đến, tô điểm thêm nét đẹp của tín ngưỡng dân gian Huế, của vùng đất Thần Kinh.

Thiều Trúc

Chùa bên dòng Bạch Yến

Du Lịch Huế - Ở Huế, phía sau lưng chùa Thiên Mụ có một vùng cư dân tên là Hương Hồ, gồm năm ngôi làng ngoại thành bình yên đến mức lặng lẽ.
Hương Hồ bị ngăn cách với phố phường náo nhiệt bởi dòng Bạch Yến, một nhánh sông nhỏ tẻ ra từ sông Hương.

Sông Bạch Yến màu nước xanh biếc chảy giữa hai hàng cây cũng xanh um, men theo làng Lựu Bảo uốn lượn trước mặt chùa Khánh Vân, Kim Sơn rồi xuôi dòng về An Ninh, Trúc Lâm, ra An Hòa xuống Bao Vinh, nhánh khác thì lại chảy ngang qua chùa Huyền Không trước khi nhập lại vào sông Hương.

Một khúc sông Bạch Yến.
Vào những trưa hè, ngồi trên đò du khách sẽ được nghe mùi hương thơm lừng của mít chín, được ngắm dòng sông lung linh bóng nắng lọt qua những tán phượng nở bông đỏ rực. Bên sông có nhiều ngôi chùa làng nho nhỏ, ẩn hiện sau những vườn cây um tùm.

Trước đây, mỗi mùa Phật đản về, dọc dòng sông tiếng chuông được thỉnh từ 3 giờ sáng cho đến hết ngày. Những người dân từ làng Long Hồ, Giáp Hạ, An Ninh… tín tâm với Tam bảo mỗi khi nghe chuông đánh vào ngày lễ là họ đi thuyền, ghe uốn lượn vòng vèo theo sông để đến chùa lễ Phật.

Trong vườn chùa.
Mấy năm nay, những cô cậu học trò giờ đã khôn lớn đi làm ăn xa về quê đúng mùa Phật đản thấy cảnh chùa làng giờ khang trang hơn, chỉ có lá cờ Phật tung bay trước gió bên những tán cây cổ thụ trông vẫn thanh bình như thủa nào.

Rộng rãi nhất ở đây có lẽ là chùa Phước Duyên với diện tích khoảng 4.000m2, nằm dưới chân ngọn Rú Vi, sát bờ sông Bạch Yến, thuộc thôn An Ninh thượng, phường Hương Long. Chùa ở cách xa khu dân cư khoảng 200m, chung quanh chùa chỉ có núi đồi mồ mả, cảnh trí yên tĩnh, rất thích hợp cho đời sống tâm linh.

Nếu chùa Thiên Mụ ngự trị từ đỉnh đồi cao, tỏ vẻ khí thế oai hùng thanh thoát, tiếng chuông ngân vang để làm tỉnh thức mọi người, thì trái lại chùa Phước Duyên nằm dưới chân đồi, ẩn mình một cách khiêm tốn, để thấm sâu vào huyết mạch tín ngưỡng của dân làng.

Cổng chùa Phước Duyên.
Chùa kiến trúc theo lối chữ khẩu, phía trước là chùa gồm có ba gian và hai liêu, xây hướng về phía đông nam, phía tây nam là giảng đường, phía tây bắc là hậu đường, phía đông bắc là khách đường, kế bên khách đường là một dãy nhà dài năm gian để dành cho khách phương xa.

Chùa ban đầu chỉ là một thảo am trên vùng đất hoang dã tịch liêu. Trải qua nhiều lần trùng tu kiến thiết, ngày nay ngôi chùa trở nên khá đồ sộ, khang trang, lại thêm phong cảnh thơ mộng hữu tình nên đã đón nhận rất nhiều kẻ tăng, người tục về đây tu học.

Trên phương diện hoằng pháp chùa đã gắn liền vào đời sống dân quê, truyền bá tinh thần Phật giáo vào nếp sống hằng ngày của họ. Cách chùa Phước Duyên không xa còn có chùa Khánh Sơn cũng rất tĩnh mịch và xinh đẹp.

Những ngôi chùa bên dòng Bạch Yến này đều là nơi nương náu tinh thần và là chỗ gởi gắm tâm linh của dân chúng quanh vùng. Tiếng chuông chùa không chỉ thôi thúc người trong làng bỏ ác làm lành, mà còn là tiếng đồng hồ thức tỉnh cho họ biết giờ khắc để sắp xếp mọi công việc sinh hoạt hằng ngày.