Di tích Viện Cơ mật - Tam tòa nay thuộc đường Tống Duy Tân, phường Thuận Thành, nằm ở phía Đông Nam của kinh thành Huế, nay là trụ sở của trung tâm bảo tồn đi tích Cố đô Huế. Đây là một di tích mang nhiều biến cố lịch sử với nhiều lần thay đổi cả về chức năng, kiến trúc và tên gọi.
Năm 1738, Chúa Nguyễn Phúc Khoát đã chọn nơi này để xây dựng thủ phủ Phú Xuân. Sau khi xây dựng xong thì đổi tên là Chính Dinh, và đến năm 1754 thì gọi là Đô Thành Phú Xuân - là trung tâm văn hóa chính trị xứ Đàng Trong của các Chúa Nguyễn cho đến năm 1775. Sau đó bị quân Trịnh chiếm đóng (1775-1786), rồi trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn (1786-1801). Năm 1802, vua Gia Long lên ngôi, mở ra một vương triều mới. Đồng thời Thủ phủ Phú Xuân cũng bị triệt giải và khu vực Tam Tòa hiện nay được dùng để xây chỗ ở cho Hoàng tử Đảm (sau này trở thành vua Minh Mạng). Năm 1816, khi hoàng tử Đảm được phong Hoàng thái tử và chuyển về nơi ở mới ở phía đông kinh thành, nơi đây trở thành nơi ở của Hoàng tử Nguyễn Phúc Chẩn (em vua Minh Mạng), và về sau trở thành nơi ở của Nguyễn Phúc Thiện Khuê - con trai trưởng của Nguyễn Phúc Chẩn.Năm Minh Mạng thứ 20 (1839), khu đất này được lấy lại để xây chùa Giác Hoàng - ngôi chùa được vua Thiệu Trị xếp vào một trong 20 thắng cảnh của đất thần kinh thời bấy giờ.
Cổng chính Viện cơ mật ngày xưa
Đến cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, sau khi Việt Nam mất hẳn chủ quyền vào tay thực dân Pháp, tòan bộ kiến trúc của chùa Giác Hoàng bị Pháp cho triệt giải để xây dựng Viện Cơ Mật (hoàn thành năm 1903) (tức Tam Tòa ngày nay). Tên gọi Tam Tòa là do dân gian đặt, vì trong khuôn viên này, ngoài công trình chính là Viện Cơ Mật, còn có hai dãy nhà hai bên. Dãy bên phải được xây làm văn phòng của các ông Hội lý người Pháp và dãy bên trái được xây làm Bảo tàng Kinh tế. Từ đó đến nay, di tích này không có gì thay đổi về mặt kiến trúc nhưng chức năng thì lại khác.
Tòa nhà chính của Viện cơ mật ngày xưa
Từ 1955 đến 1975, dưới chế độ cũ, hai dãy nhà hai bên trở thành văn phòng của các cơ quan tư pháp địa phương (tỉnh Thừa Thiên và thành phố Huế), còn tòa nhà chính (tức Viện Cơ Mật) được dùng làm nơi xét xử các vụ án từ sơ thẩm đến thượng thẩm.Từ năm 1975 đến 1976, Ủy ban Quân quản Trị Thiên Huế đóng và làm việc tại khu vực này. Từ năm 1976 -1989, Tam Tòa trở thành trụ sở của Tỉnh ủy tỉnh Bình Trị Thiên, rồi Tỉnh ủy tỉnh Thừa Thiên Huế (1989 - 2000). Tháng 10/2000 đến nay, Tam Tòa được chuyển giao cho Trung tâm BTDTCĐ Huế quản lý.
Là cơ quan tư vấn của nhà vua gồm bốn vị đại thần từ Tam Phẩm trở lên, là Đại Học Sĩ của các điện Đông Các, Văn Minh, Võ Hiển và Cần Chánh. Thời vua Thành Thái có Thượng Thư Lục Bộ tham gia và viên Khâm Sứ Pháp làm chủ toạ. Thời vua Duy Tân đổi thành phủ Phu Chính. Viện lúc đầu đặt ở nhà Tả Vu. Sau khi kinh đô thất thủ năm 1885 phải dời đi đến nhà của bộ Lễ, rồi bộ Binh, và cuối cùng là về chùa Giác Hoàng cùng với toà Giám Sát (của người Pháp) và Trực Phòng các bộ nên gọi là Tam Toà.
Hiện nay Tam Tòa nằm ở địa chỉ 23 Tống Duy Tân, thuộc hường Thuận Thành, ở góc Đông-Nam bên trong kinh thành Huế, hiện là trụ sở của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế. Tam Tòa là một di tích gắn lền với bao thăng trầm của nhà Nguyễn với nhiều lần thay đổi tên , kiến trúc và vị trí , chức năng .
Cùng với Trường Quốc Tử Giám, lầu Tàng Thơ - hồ Ngọc Hải, hồ Tịnh Tâm , Viện Cơ Mật đã được Bộ Văn hóa - Thông tin công nhận xếp vào danh mục di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia.
Friday, May 8, 2015
Wednesday, May 6, 2015
Hòn Chén, cảnh đẹp bên dòng sông Hương
Từ thành phố Huế, ngược dòng sông Hương đi về phía huyện Hương Trà, đến làng Hải Cát, du khách sẽ nhìn thấy một ngọn núi thấp cây cối xanh rì soi bóng xuống mặt nước phẳng lặng. Thấp thoáng ở lưng núi là màu ngói nâu đã rêu phong của những đền thờ cổ. Đó chính là Hòn Chén, một thắng cảnh ở Thừa Thiên - Huế nổi tiếng với lễ hội dân gian thờ và rước sắc mẫu Thiên Y Ana.
Nhánh núi chạy về phía đông của dãy Trường Sơn đến tả ngạn sông Hương thì dừng lại ngay làng Hải Cát, tạo thành ngọn núi thấp. Trên đỉnh núi có một hố trũng khá rộng, lúc mưa nước đọng lại trông như cái chén nước khổng lồ. Vì thế dân gian đặt tên núi là Ngọc Trản
Sơn - hay còn gọi là Hòn Chén.
Khúc sông qua Hòn Chén được xem là nơi sâu nhất của dòng sông Hương. Không ai biết người Chăm xưa đã dựng đền thờ cúng Thánh Mẫu Thiên Y Ana ở núi này từ bao giờ. Thời nhà Nguyễn, các vua, chúa tiếp tục tu sửa, mở rộng đền. Đến nay, đã có hàng chục công trình kiến trúc xinh xắn nép mình dưới bóng râm của một khóm rừng cổ thụ tán lá um tùm.
Từ bến nước bên sông, theo những bậc thang lên đến các ngôi đền cao thấp, du khách cảm thấy mình đang dần đi vào một nơi hoàn toàn thanh tịnh, linh thiêng. Lên đến đền cao nhất, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một bức tranh sơn thủy màu xanh với các sắc độ đậm nhạt khác nhau của sông nước, làng mạc, núi non hàng hàng lớp lớp.
Cụm đền thờ ở Hòn Chén gồm điện thờ chính là Minh Kính Ðài nằm ở giữa, mặt hướng ra sông; bên phải là nhà Quan Cư, Trinh Cát viện,
chùa Thánh; bên trái là dinh Ngũ Vị Thánh Bà; bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ - con cọp), am Ngoại Cảnh. Dưới bờ sông, cuối đường bên trái là am Thủy Phủ.
Minh Chính Đài
Ngoài ra, còn có một số bệ thờ và am nhỏ khác nằm rải rác đó đây, như am Cô Ngọc Lan, am Trung Thiên…Liễu Hạnh Công Chúa, tức là Vân Hương Thánh Mẫu cũng được đưa vào thờ ở đây. Bên cạnh đó, còn có bàn thờ Phật, thờ Thánh Quan Công và hơn 100 vị thần
thánh khác thuộc vào hàng đồ đệ của các thánh thần nói trên. Như vậy, quần thể đền Hòn Chén thờ nhiều tín ngưỡng khác nhau. Tuy nhiên, tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu vẫn là chủ đạo.
Lễ hội Điện Hòn Chén
Hàng năm vào dịp tháng 3 và tháng 7 Âm lịch, điện Hòn Chén lại tấp nập người trẩy hội Thiên Y Ana Thánh Mẫu. Nghi lễ diễn ra rất long trọng. Lễ hội giống như một festival văn hóa dân gian trên sông Hương.
Khi đó dòng sông tấp nập những chiếc thuyền kết đôi với cờ phướn, hương án đủ màu sắc hành hương về điện Hòn Chén. Tại khu vực điện sẽ diễn ra lễ Thánh Mẫu tuần du, lễ tế làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sanh, phóng đăng...
Trải qua nhiều thăng trầm, gần đây lễ hội này đã được phục hồi và được tổ chức mỗi năm một náo nhiệt hơn. Địa danh Hòn Chén theo đó cũng ngày càng được nhiều du khách biết đến. Dù có chút xô bồ trong dịp lễ, các tập tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương vẫn sẽ cho du khách biết thêm nhiều điều lý thú về lịch sử của vùng đất này.
Nhánh núi chạy về phía đông của dãy Trường Sơn đến tả ngạn sông Hương thì dừng lại ngay làng Hải Cát, tạo thành ngọn núi thấp. Trên đỉnh núi có một hố trũng khá rộng, lúc mưa nước đọng lại trông như cái chén nước khổng lồ. Vì thế dân gian đặt tên núi là Ngọc Trản
Sơn - hay còn gọi là Hòn Chén.
Khúc sông qua Hòn Chén được xem là nơi sâu nhất của dòng sông Hương. Không ai biết người Chăm xưa đã dựng đền thờ cúng Thánh Mẫu Thiên Y Ana ở núi này từ bao giờ. Thời nhà Nguyễn, các vua, chúa tiếp tục tu sửa, mở rộng đền. Đến nay, đã có hàng chục công trình kiến trúc xinh xắn nép mình dưới bóng râm của một khóm rừng cổ thụ tán lá um tùm.
Từ bến nước bên sông, theo những bậc thang lên đến các ngôi đền cao thấp, du khách cảm thấy mình đang dần đi vào một nơi hoàn toàn thanh tịnh, linh thiêng. Lên đến đền cao nhất, du khách sẽ được chiêm ngưỡng một bức tranh sơn thủy màu xanh với các sắc độ đậm nhạt khác nhau của sông nước, làng mạc, núi non hàng hàng lớp lớp.
Cụm đền thờ ở Hòn Chén gồm điện thờ chính là Minh Kính Ðài nằm ở giữa, mặt hướng ra sông; bên phải là nhà Quan Cư, Trinh Cát viện,
chùa Thánh; bên trái là dinh Ngũ Vị Thánh Bà; bàn thờ Các Quan, động thờ ông Hạ Ban (tức ông Hổ - con cọp), am Ngoại Cảnh. Dưới bờ sông, cuối đường bên trái là am Thủy Phủ.
Minh Chính Đài
Ngoài ra, còn có một số bệ thờ và am nhỏ khác nằm rải rác đó đây, như am Cô Ngọc Lan, am Trung Thiên…Liễu Hạnh Công Chúa, tức là Vân Hương Thánh Mẫu cũng được đưa vào thờ ở đây. Bên cạnh đó, còn có bàn thờ Phật, thờ Thánh Quan Công và hơn 100 vị thần
thánh khác thuộc vào hàng đồ đệ của các thánh thần nói trên. Như vậy, quần thể đền Hòn Chén thờ nhiều tín ngưỡng khác nhau. Tuy nhiên, tín ngưỡng thờ Thánh Mẫu vẫn là chủ đạo.
Lễ hội Điện Hòn Chén
Hàng năm vào dịp tháng 3 và tháng 7 Âm lịch, điện Hòn Chén lại tấp nập người trẩy hội Thiên Y Ana Thánh Mẫu. Nghi lễ diễn ra rất long trọng. Lễ hội giống như một festival văn hóa dân gian trên sông Hương.
Khi đó dòng sông tấp nập những chiếc thuyền kết đôi với cờ phướn, hương án đủ màu sắc hành hương về điện Hòn Chén. Tại khu vực điện sẽ diễn ra lễ Thánh Mẫu tuần du, lễ tế làng Hải Cát, lễ cung nghinh Thánh Mẫu hồi loan về điện, lễ phóng sanh, phóng đăng...
Trải qua nhiều thăng trầm, gần đây lễ hội này đã được phục hồi và được tổ chức mỗi năm một náo nhiệt hơn. Địa danh Hòn Chén theo đó cũng ngày càng được nhiều du khách biết đến. Dù có chút xô bồ trong dịp lễ, các tập tục truyền thống mang đậm màu sắc văn hóa dân gian địa phương vẫn sẽ cho du khách biết thêm nhiều điều lý thú về lịch sử của vùng đất này.
Tuesday, May 5, 2015
Chùa Báo Quốc
Du Lịch Huế - Tọa lạc ở đường Báo Quốc, thuộc phường Phường Đúc, thành phố Huế, chùa Báo Quốc ban đầu có tên là Hàm Long Thiên Thọ Tự, do Thiền sư Giác Phong dựng vào cuối thế kỷ XVII, đời Chúa Nguyễn Phúc Tần. Đến năm 1747, Chúa Nguyễn Phúc Khoát ban cho chùa tấm biển "Sắc Tứ Báo Quốc Tự" có ghi dòng chữ: "Quốc Vương Từ Tế đạo nhân ngự đề"
Chùa được xây dựng theo kiểu chữ "Khẩu-口” trên đồi Ham Long rộng khoảng 2 hecta. Qua khỏi cổng tam quan cổ kính là một khoản sân đất có hai hàng cổ nhãn uy nghi tiếp đến là khoảng sân trên trồng nhiều cây tùng có lan can bao bọc.

Chùa Báo Quốc
Chánh điện chùa ẩn sau tán cây ngọc lan trầm mặc và hiền hoà. Trong chùa thờ tự rất trang nghiêm. Chính giữa trên cao tôn trí bộ tượng Tam thế Phật rất xưa, hậu liêu thờ tổ tôn trí bình tro cốt của Tổ Giác Phong mà được biết vào năm 1958 khi khai tháp Tổ Giác Phong để quy vào Niết Bàn Đại Tháp chư Tăng ở Huế đã gặp được bình tro thờ ở tầng trên Tháp. Bình tro từ đó được cung thỉnh vào bàn thờ ở bàn thờ Tổ cho đến nay.
Vào thời Tây Sơn, chùa đã bị chiếm đóng và trưng dụng làm kho chứa diêm tiêu. Sau đó vào năm 1808, Hoàng Hậu Hiếu Khương cho tái thiết ngôi chùa, xây tam quan, đúc đại hồng chung, bảo khánh và đổi tên là chùa Hàm Long Thiên Thọ tự và mời thiền sư Phổ Tịnh làm trụ trì.
Năm 1824, vua Minh Mạng ngự thăm chùa và sắc tứ tên "Báo Quốc Tự". Nhà vua đã tổ chức đại giới đàn tại chùa nhân lễ Vạn thọ tứ tuần đại khánh vào năm 1830. Đến năm 1858, do chùa bị hư hỏng nhiều, vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dũ đã ban tiền trùng tu ngôi chánh điện và các công trình khác.
Trong phong trào chấn hưng Phật giáo vào những năm 1930, chùa đã có nhiều đóng góp về mặt đào tạo tăng tài cho Phật giáo. Năm 1935, trường Sơ đẳng Phật giáo được mở tại chùa. Đến năm 1940, trường Cao đẳng Phật giáo cũng lại được mở tại đây. Năm 1957, Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và Ban Quản trị chùa đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng Thích Trí Thủ, vừa là Giám đốc Phật học đường, vừa là trụ trì chùa, đã có những đóng góp to lớn cho Phật giáo nói chung và cho việc tái thiết ngôi tổ đình trang nghiêm với những nét kiến trúc cổ kính nói riêng.
Từ năm 1959 đến trước 1975 trường trung tiểu học tư thục Bồ Đề Hàm Long ra đời, đây là một ngôi trường đã lưu dấu nhiều kỷ niệm đẹp của bao thế hệ học trò là Tăng, Ni và Phật tử Huế. Ngày nay, tên trường Hàm Long chỉ còn là một tấm bản rêu phong ngay ngã ba Điện Biên Phủ-Báo Quốc, là dấu tích một thời cũng là kỷ niệm ngọt ngào như nước giếng Hàm Long.
Giếng Hàm Long (tên chữ là Hàm Long Tĩnh), theo bia “Hàm Long Tỉnh” thì Giếng Hàm Long nằm ngay dưới chân đồi Hàm Long xuất hiện cùng thời với Hoà thượng Giác Phong khai sơn (khoảng năm 1674). Giếng có một mạch nước theo lỗ đá phun ra như vòi rồng, có nước trong, thơm và ngọt. Nước giếng này sau đó được tiến dâng lên các Chúa, còn người dân thì tuyệt đối không được phép dùng, từ đó nó trở thành một giếng thiêng, giếng cấm: cho nên mới có câu ca dao:
Nước giếng Hàm Long đã trong lại ngọt;
Em thương anh rầy có Bụt chứng tri
Hoặc là :
Chùa Hàm Long thơm trong giếng cấm,
Diêm tiêu nào ngăn được nước trong.
Trong khuôn viên chùa có Tháp Tổ Giác Phong, theo bia tháp: “Viên thọ Tỳ kheo giới, huý Pháp Hàm Giác Phong Thiền sư chi Tháp.” lạc khoảnh bia đề “Vĩnh Thịnh thập niên, thập nhị nguyệt, thập nhị nhật.” thì tháp được tạo dựng ngày 22 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1715).
Ngoài ra còn có một nhóm tháp khác, đáng chú ý hơn hết là Niết Bàn Đai Tháp được Giáo hội Tăng Già Trung Việt xây năm 1952 để quy 19 tháp cổ ở vườn Chùa Báo Quốc vào đại Tháp.
Chùa Báo Quốc nổi tiếng cảnh đẹp, cây cối quang năm xanh phủ u tịch, ngôi chùa kiến trúc theo lối cổ thấp nằm khuất trong những tàng cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Xưa nay chùa nổi tiếng có nhiều loài hoa và cây quý.
Bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông đều có tao nhân mặc khách lui tới thăm chùa ngắm cảnh sáng tác thơ văn hội hoạ. Trong đó có nhà thơ nổi tiếng Tuy Lý vương Miên Trinh, ông đã nhiều lần đến đây và ngắm cảnh làm thơ, bài thơ Dạo Chơi Chùa Báo Quốc trong đó có những câu đã nói lên cảnh đẹp ảo huyền của chùa:
Chùa này nghe có vết xe tiên
Cảnh sắc như xưa tợ ảo huyền...
Ngày nay, chùa Báo Quốc là một trong những địa chỉ du lịch ưa thích của du khách đến Huế. Thiên nhiên và kiến trúc của chùa Báo Quốc có thể nói là một danh lam thực thụ, toàn cảnh của ngôi chùa này đến nay vẫn còn giữ được hồn xưa tĩnh mặc.
Chùa được xây dựng theo kiểu chữ "Khẩu-口” trên đồi Ham Long rộng khoảng 2 hecta. Qua khỏi cổng tam quan cổ kính là một khoản sân đất có hai hàng cổ nhãn uy nghi tiếp đến là khoảng sân trên trồng nhiều cây tùng có lan can bao bọc.
Chùa Báo Quốc
Chánh điện chùa ẩn sau tán cây ngọc lan trầm mặc và hiền hoà. Trong chùa thờ tự rất trang nghiêm. Chính giữa trên cao tôn trí bộ tượng Tam thế Phật rất xưa, hậu liêu thờ tổ tôn trí bình tro cốt của Tổ Giác Phong mà được biết vào năm 1958 khi khai tháp Tổ Giác Phong để quy vào Niết Bàn Đại Tháp chư Tăng ở Huế đã gặp được bình tro thờ ở tầng trên Tháp. Bình tro từ đó được cung thỉnh vào bàn thờ ở bàn thờ Tổ cho đến nay.
Vào thời Tây Sơn, chùa đã bị chiếm đóng và trưng dụng làm kho chứa diêm tiêu. Sau đó vào năm 1808, Hoàng Hậu Hiếu Khương cho tái thiết ngôi chùa, xây tam quan, đúc đại hồng chung, bảo khánh và đổi tên là chùa Hàm Long Thiên Thọ tự và mời thiền sư Phổ Tịnh làm trụ trì.
Năm 1824, vua Minh Mạng ngự thăm chùa và sắc tứ tên "Báo Quốc Tự". Nhà vua đã tổ chức đại giới đàn tại chùa nhân lễ Vạn thọ tứ tuần đại khánh vào năm 1830. Đến năm 1858, do chùa bị hư hỏng nhiều, vua Tự Đức và Hoàng Thái hậu Từ Dũ đã ban tiền trùng tu ngôi chánh điện và các công trình khác.
Trong phong trào chấn hưng Phật giáo vào những năm 1930, chùa đã có nhiều đóng góp về mặt đào tạo tăng tài cho Phật giáo. Năm 1935, trường Sơ đẳng Phật giáo được mở tại chùa. Đến năm 1940, trường Cao đẳng Phật giáo cũng lại được mở tại đây. Năm 1957, Giáo hội Tăng già Thừa Thiên và Ban Quản trị chùa đã tổ chức đại trùng tu ngôi chùa. Hòa thượng Thích Trí Thủ, vừa là Giám đốc Phật học đường, vừa là trụ trì chùa, đã có những đóng góp to lớn cho Phật giáo nói chung và cho việc tái thiết ngôi tổ đình trang nghiêm với những nét kiến trúc cổ kính nói riêng.
Từ năm 1959 đến trước 1975 trường trung tiểu học tư thục Bồ Đề Hàm Long ra đời, đây là một ngôi trường đã lưu dấu nhiều kỷ niệm đẹp của bao thế hệ học trò là Tăng, Ni và Phật tử Huế. Ngày nay, tên trường Hàm Long chỉ còn là một tấm bản rêu phong ngay ngã ba Điện Biên Phủ-Báo Quốc, là dấu tích một thời cũng là kỷ niệm ngọt ngào như nước giếng Hàm Long.
Giếng Hàm Long (tên chữ là Hàm Long Tĩnh), theo bia “Hàm Long Tỉnh” thì Giếng Hàm Long nằm ngay dưới chân đồi Hàm Long xuất hiện cùng thời với Hoà thượng Giác Phong khai sơn (khoảng năm 1674). Giếng có một mạch nước theo lỗ đá phun ra như vòi rồng, có nước trong, thơm và ngọt. Nước giếng này sau đó được tiến dâng lên các Chúa, còn người dân thì tuyệt đối không được phép dùng, từ đó nó trở thành một giếng thiêng, giếng cấm: cho nên mới có câu ca dao:
Nước giếng Hàm Long đã trong lại ngọt;
Em thương anh rầy có Bụt chứng tri
Hoặc là :
Chùa Hàm Long thơm trong giếng cấm,
Diêm tiêu nào ngăn được nước trong.
Trong khuôn viên chùa có Tháp Tổ Giác Phong, theo bia tháp: “Viên thọ Tỳ kheo giới, huý Pháp Hàm Giác Phong Thiền sư chi Tháp.” lạc khoảnh bia đề “Vĩnh Thịnh thập niên, thập nhị nguyệt, thập nhị nhật.” thì tháp được tạo dựng ngày 22 tháng 12 năm Vĩnh Thịnh thứ 10 (1715).
Ngoài ra còn có một nhóm tháp khác, đáng chú ý hơn hết là Niết Bàn Đai Tháp được Giáo hội Tăng Già Trung Việt xây năm 1952 để quy 19 tháp cổ ở vườn Chùa Báo Quốc vào đại Tháp.
Chùa Báo Quốc nổi tiếng cảnh đẹp, cây cối quang năm xanh phủ u tịch, ngôi chùa kiến trúc theo lối cổ thấp nằm khuất trong những tàng cây cổ thụ hàng trăm năm tuổi. Xưa nay chùa nổi tiếng có nhiều loài hoa và cây quý.
Bốn mùa Xuân-Hạ-Thu-Đông đều có tao nhân mặc khách lui tới thăm chùa ngắm cảnh sáng tác thơ văn hội hoạ. Trong đó có nhà thơ nổi tiếng Tuy Lý vương Miên Trinh, ông đã nhiều lần đến đây và ngắm cảnh làm thơ, bài thơ Dạo Chơi Chùa Báo Quốc trong đó có những câu đã nói lên cảnh đẹp ảo huyền của chùa:
Chùa này nghe có vết xe tiên
Cảnh sắc như xưa tợ ảo huyền...
Ngày nay, chùa Báo Quốc là một trong những địa chỉ du lịch ưa thích của du khách đến Huế. Thiên nhiên và kiến trúc của chùa Báo Quốc có thể nói là một danh lam thực thụ, toàn cảnh của ngôi chùa này đến nay vẫn còn giữ được hồn xưa tĩnh mặc.
Sunday, May 3, 2015
Chùa Trúc Lâm
Du Lịch Huế - Chùa Trúc Lâm ở về phía tây nam cách thành phố Huế khoảng 5km, tọa lạc trên đỉnh đồi Dương Xuân Thượng thuộc làng Thuận Hòa, xã Thủy Xuân, huyện Hương Thủy.
Đồi Dương Xuân Thượng nằm lọt thỏm giữa những ngọn đồi và núi bao quanh. Phía bắc giáp dốc Cầu Lim và đàn Nam giao; phía nam giáp đồi lăng mộ cụ thượng thư Hồ Đắc Trung và vùng núi Ngũ Tây, Thần Phù, Phú Bài; phía đông có núi Thiên Thai và vùng núi đá vôi và phía tây có đồi Thiên An, núi Kim Phụng mà xa hơn là dãy Trường sơn Nam. Sườn đồi Dương Xuân hình vòng cung , dưới chân đồi có khe suối uốn khúc chảy từ hướng nam bắc vòng qua dưới Cầu Lim vào địa phận Dương Xuân Hạ trước khi đổ ra sông Hương.

Cách đây hơn nửa thế kỷ về mùa mưa suối chảy xiết nước đổ ầm ầm, đến mùa khô hanh nước cạn dần, suối trở thành khe nước trong vắt ngọt lịm có thể thấy đá cuội dứới lòng khe và những đàn cá nhỏ tung tăng rượt đuổi nhau. Hai bên bờ suối là một dãi cát trắng phau nhất là ở trước mặt tiền của chùa, còn ở nơi khác thì cát chen lẩn với đá cuội đủ màu sắc (từ đen tuyền cho đến trắng bạch, xanh ngọc, xám, nâu vàng tím…) to nhỏ tròn lép hay có những hình thù góc cạnh khác thường trông rất lạ mắt đúng là:
Trước mặt bờ khe phơi cát trắng
Sau lưng chòm núi rợp cây xanh.
Đến thập niên 60 thế kỷ trước, sư ông trù trì chùa Trúc Lâm là Hòa thượng Thích Mật Hiển cho ủi san bằng khu đất trước cổng chùa bên dưới chân đồi và đào sâu xuống thành một cái hồ hình chữ S. Sư ông còn đắp một con đường đi vòng quanh hồ, hai bên bờ trồng trúc, tre la ngà, dương liễu. Mé phải đầu con đường thiền hành này sư ông có cho dựng một cột đá có khắc chữ hình như là ba chữ Trúc Lâm Tự. Lâu ngày cột đá đổ xuống không rõ tấm bia nay còn hay đã mất.
Gần một thế kỷ khi mới lập chùa Trúc Lâm, chổ đó chỉ là một cái am lá thô sơ nằm trong một khu rừng hoang vắng rậm rạp tre trúc dày đặc. Chung quanh am là đồi núi khe suối chia cắt, theo đường chim bay thì từ kinh đô đến chùaTrúc Lâm còn xa hơn chùa Tra Am của sư Viên Thành ở dưới chân núi Ngự Bình. Ít người đến được nơi đây hoặc muốn tới phải băng rừng lội suối vạch lau sậy đi theo lối mòn của tiều phu hay thợ săn.
Đồi Dương Xuân là đất bìa rừng của dãy Trường Sơn, đứng trên núi Ngự Bình hay trên đỉnh Thiên Thai nhìn về phía tây là có thể định vị đỉnh đồi Dương Xuân Thượng nếu như có một tiều phu nào đó đốt củi làm than trên đó.
Tồ khai sơn chùa là Thiền sư Giác Tiên, câu chuyện ngôi chùa được thành lập là một hạnh duyên cực kỳ lý thú :
Nguyên vào mùa xuân năm Ất Mùi (1895) triều Thành Thái, chùa Phổ Quang ở dốc Bến Ngự càng ngày càng hư hỏng. Theo tương truyền là một thảo am của ông Nguyễn Hữu Hào (Đôn Hậu Công Thần Trấn Thủ sinh năm 1642 mất năm 1712 tức anh ruột của Nguyễn Hữu Cảnh ngưởi khai sinh ra thành phố Saigòn) tác giả của một truyên thơ bằng chữ Nôm truyền đời đó là truyện Song Tinh (một tác phẩm văn học cổ nước ta trước cả truyện Hoa Tiên và truyện Kiều hơn một thế kỷ). Lúc ấy, tự trưởng là Chánh Động Đại sư đem ngôi chùa cúng dường cho đại lão hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu. Bấy giờ có một tỳ kheo ni là bà Hồ Thị Nhàn người làng Chuồn ( An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên) con ông Hồ Đắc Tuấn và bà Công Nữ Thức Huấn, cháu ngoại của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Bà sinh năm 1863 kết duyên cùng ông Nguyễn Đôn Lý, sau ngày chồng mất bà xuất gia thụ giáo với hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu (1898) pháp danh Thanh Linh hiệu Diên Trường. Bà xin phép đại lão hòa thượng được trùng tu chùa Phổ Quang. Điện Phật, cửa chùa, nhà tăng, buồng bếp, ảnh tượng, đồ thờ được sửa sang trang nghiêm đầy đủ. Bà lại đem chuyện đó tâu lên với đức Thái hoàng Thái hậu Trang Ý Thuận Hiếu xin ban cho hai mẫu ruộng chi dùng vào việc đèn hương… Đấy cũng là thời điểm đang mở đường xe lửa chạy ngang qua dứơi chân đồi của chùa Phổ Quang, nơi ấy trở nên thị tứ ồn ào đông đúc, dân cư tụ tập, chơ búa ghe thuyền tấp nập… nên sư bà Diên Trường tìm đường rẻ lối tới chốn sơn lâm cùng cốc xa hơn lập một thảo am khác để tiếp tục tu hành. Duyên lành đã hạnh ngộ trên đỉnh đồi Dương Xuân là vậy, khi thảo am đã xong sư bà Diên Trường mời sư Giác Tiên về làm trụ trì và sư cũng là tổ khai sơn của chùa Trúc Lâm ngày nay.
Trước khi về nhận chùa, sư Giác Tiên đã cùng sư cụ Diên Trường du hành đó đây. Khi đến Trúc Lâm Yên Tử (một trung tâm Phật Học dứơi triều đại nhà Trần) hai vị đã lưu lại một thời gian, sưu tầm một số pháp bảo quý giá như kinh điển, pháp khí. Trở về Huế, sư đã quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm Đại Thánh, có ý liên hệ với Trúc Lâm tinh xá thời Phật còn tại thế và thiền phái Trúc Lâm ở Yên Tử nước ta do Trúc Lâm Đầu Đà Đại Sĩ (hiệu của vua Trần Nhân Tông) thiết lập.
Tổ khai sơn pháp danh Trừng Thành, tự Chí Thông thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Sư thế danh Nguyễn Duy Quyển sanh năm 1879 tại làng Dạ Lê Thượng, Thủy Phương, Hương Thủy. Lên 4 tuổi thì song thân mất, phải về ở với ông bà đến năm 11 tuổi (1890) xin xuất gia và được thọ giáo với tổ sư Tâm Tịnh (đời thứ 41 thuộc dòng Lâm Tế, người khai sơn tổ đình Tây Thiên). Đầu tiên ngài được tu học tại tổ đình Từ Hiếu, nơi ngài Hải Thiệu đang làm trụ trì và ngài Tâm Tịnh làm giám tự. Năm 14 tuổi ngài được tổ cho thọ giới Sa-di. Năm 1907, Hòa thượng đàn đầu Vĩnh Gia tổ chức đại giới đàn tại chùa Phước Lâm tỉnh Quảng Nam, ngài được cho đăng đàn thọ cụ túc giới. Tại đây ngài được cử làm thủ chúng Sa-di khi vừa 28 tuổi.
Năm 1918 sư mở đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu, mời Hòa thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu. Năm 1924 vân tập đại Tăng an cư kiết hạ tại chùa, năm sau sư được chiếu chỉ của triều đình mời làm trú trì ngôi quốc tự Diệu Đế.
Năm 1926, sư cho trùng tu toàn bộ Phật điện và tăng xá chùa Trúc Lâm. Đến năm 1928 ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo tăng tài. Năm Kỷ Tỵ 1929, ngài vào Tổ đình Thập Tháp ở Bình Định mời Hòa thượng Phuớc Huệ ra Huế làm chủ giảng. Năm 1930, sư khuyến khích và giúp đỡ sư bà Diệu Hương xây dựng và mở Ni trường Diệu Đức.
Năm 1931, sư là người đầu tiên khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo và vận động thành lập Hội An Nam Phật học, thỉnh nhiều vị thiền sư tài đức về chung lo Phật sự. Năm 1932, nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng Thái hậu), vua Bảo Đại cho phép An Nam Phật học hội ra đời do sư đứng đầu, trụ sở đầu tiên đặt tại chùa Trúc Lâm Huế. Năm 1933, sư ủy cử thiền sư Mật Khế vị đệ tử xuất sắc của ngài mở trường An Nam Phật học sơ cấp tại chùa Vạn Phước. Năm 1934 vua Bảo Đại ban sắc chỉ đặt tên chùa là “Sắc tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự ”.
Năm 1935, pháp sư Trí Độ đảm nhiệm chức vụ Đốc giáo sau khi trường dời từ chùa Túy Vân (chùa Thánh Duyên) về chùa Báo Quốc. Trong năm này sư cùng đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật học tại Trúc Lâm, thu nhận 50 học tăng. Đến cuối năm ngài lại quy tụ các học tăng có trình độ cao về Trúc Lâm để mở thêm cấp Đại học Phật giáo, và đó là lớp Đại học Phật giáo đầu tiên có tại miền Trung. Ngoài vị đệ tử lớn của sư là thiền sư Mật Khế, còn có vị đệ tử tại gia rất xuất sắc là Bác sĩ Lê Đình Thám, người đã soạn thảo chương trình tu học cho thanh thiếu niên Phật tử. An Nam Phật học hội đã hơn một lần tổ chức một đại lễ Phật đản lớn chưa từng có ở Huế.
An Nam Phật học hội qui tụ được nhiều nhà tu hành uyên bác như các Thiền sư Mật Khế, Mật Thể, Đôn Hậu, Diệu Hương, Diệu Không... các cư sĩ như Tiến sĩ Đinh Văn Chấp, Nguyễn Khoa Tân, Bửu Bác... và ra báo Viên Âm, tổ chức các buổi thuyết pháp, dịch Kinh sách
Ngày 2 tháng 10 năm Bính Tý, sư cho quy tụ đồ chúng để nghe giảng kinh Pháp Bảo Đàn. Hai hôm sau khi giảng xong phẩm Bát nhã, sư nhìn từng đệ tử để truyền kệ và vào lúc 20 giờ ngày mùng 4 tháng 10 niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (tức ngày 17.11.1936) sư thị tịch lúc 57 tuổi trong lúc đang đảm nhận trách vụ trú trì hai tổ đình Trúc Lâm - Diệu Đế và chứng minh đạo sư cho hội An Nam Phật học.
Với công hạnh và đức độ của sư, ngài Tâm Tịnh đã phó pháp bài kệ sau :
Giác đạo kiếp không Tiên
Không không bát nhã thuyền
Quả nhân phù hạnh giải
Xứ xứ tức an nhiên.
(Đường giác kiếp không trước, thuyền bát nhã không không, hạnh giải hợp nhân quả, ở đâu cũng thong dong).
Nguyễn Lang viết : “Thiền sư Giác Tiên có thể gọi là người đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung. Thiền sư hướng đạo cho hội An Nam Phật học được bốn năm thì viên tịch. Các đệ tử của ngài là thiền sư Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những vai trò quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật giáo sau này”.
Thiền sư Mật Khế là một trong những đại đệ tử của sư Giác Tiên. Sư là con ông Khóa họ Lê ở Thần Phù và bà Nguyễn Thị Lài người làng Cầu Ngói Thanh Toàn. Xuất gia từ năm lên 7 tuổi sau khi cha qua đời, sư là một người thông minh lanh lợi làu thông kinh sử ngay từ thuờ niên thiếu được mọi người trong chùa gọi là chú tiểu Nam. Năm 20 – 22 tuổi khi đang tu học ở chùa Thánh Duyên - Túy Vân (quê hương của đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại). Bà Từ Cung nghe tiếng sư là người uyên bác nên cho vời sư vào cung để thuyết giảng phật pháp.
Thiền Sư Mật Khế qua đời khi còn rất trẻ khoảng 30 tuổi vì bị viêm phúc mạc do viêm ruột thừa, hiện tại thiền sư còn một người em gái là cụ bà Hồ Thị Huyền vợ của ông Ưng Úy (thượng thư bộ Lễ) và bà đang sống tại Tp HCM.
Thiền sư Mật Thể thế danh là Nguyễn hữu Kê người làng Nguyệt Biều (Hương Thủy, Thừa Thiên) sinh năm 1912, xuất gia năm 12 tuổi, tu học tại chùa Diệu Hỷ, Từ Quang, Trúc Lâm. Năm 1930, được Hòa Thượng Giác Tiên nhận làm đệ tử pháp danh Tâm Nhất, hiệu Mật Thể. Năm 1937 sang Trung Quốc học ỡ Phật Học Viện Tiêu Sơn, năm 1941 dạy tại Phật học đường Lữơng Xuyên Trà Vinh, năm 1944 làm trụ trì chùa Phổ Quang ở Huế và mất năm 1961 tại Nghệ An.
Thiền sư Mật Hiển là vị Hòa thượng trụ trì chùa Trúc Lâm lâu nhất, mất năm 1992 là ngươi có công nhiều nhất trùng tu và xây dựng chùa Trúc Lâm để có được dáng vẻ như ngày hôm nay.
Từ thành phố Huế xe đi qua cầu Nam Giao vào con dường thẳng mà không bằng ấy đến đàn rẽ trái vượt qua cầu Lim găp một con đường đất bên trái đi thêm khoảng 500 mét là đến cổng chùa. Chỉ mất chừng nửa giờ đi xe là đến nơi, con đường đá vàng cát trắng quanh co ngày xưa mà bác sĩ Lê Đình Thám đã từng mô tả :
Đường Trúc Lâm đá vàng cát trắng,
Cảnh Trúc Lâm, cảnh vắng người thanh
Dòng khe lượn khúc như tranh
Rừng cây rợp bóng tươi xanh bốn mùa.
Thoạt đầu để mở được con đường quả thật là cam go vì khu vực này còn là rừng nguyên sinh, cây cối tre trúc um tùm ít bóng ngươi lai vãng. Đất đai chưa có ai khai phá có rất nhiều đoạn phải xẻ núi bởi triền đồi Dương Xuân Thượng có độ dốc khá dựng đứng bên phải là vực sâu có giòng khe nước chảy xiết nhất là mùa mưa bão.
Một trăm năm trước nhà chùa chỉ làm được một lối mòn ven triền đồi để đi lại, xe ngựa không thể vào đây được (dấu tích nay vẫn còn thấy). Sau những đợt trùng tu chùa vào các năm 1926, 1942, 1968, 1992 con đường mới được rộng rãi như hôm nay.
Qua vuông sân nhỏ, du khách đến trước chánh điện kiến trúc theo kiểu Á Đông. Mái cong lợp ngói đỏ có gắn long, lân, quy, phụng trên nóc và chia làm ba phần : phía trước là tiền đường, giữa là chánh điện, sau là hậu tổ. Tiền đường tả hữu là lầu chuông trống, chánh điện bên trong khám thờ đức Bổn sư, bên trái có ngài Ca-diếp đứng cầm hoa sen miệng mỉm cười, bên phải có ngài A-nan tay bưng bình bát như đang chờ đợi đệ tử kế thừa. Ở tầng kế tiếp thờ đức Phật Dược sư, hai bên có đức Quan Âm và Địa Tạng. Phía trước tầng này là bàn để chuông mõ. Trên tường có treo bức hoành sơn son thếp vàng bảy chữ “Sắc tứ Trúc Lâm đại thánh tự” và dòng chữ nhỏ “Bảo Đại bát niên cát nhật tạo”.
Gian bên trái phía trên thờ ngài Văn-thù-sư-lợi, bàn thấp hơn thờ đức Quan Thế Âm, cạnh bên trái sát tường là tôn tượng ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Gian bên phải phía trên thờ ngài Phổ-hiền, thấp hơn là bàn thờ ngài Đại Thế Chí, cạnh tường là tôn ảnh của ngài Thạch Liêm Thích Đại Sán. Phía ngoài là hai bàn Tiêu Diện và Hộ Pháp đối diện nhau.
Hậu Tổ cách chánh điện bằng một bức tường ván sơn trắng nhạt. Gian giữa thờ di ảnh tổ Giác Tiên bằng sơn mài lọng kiếng, trên bàn thờ có ba long vị: ở giữa là long vị của tổ Phước Huệ chùa Thập Tháp Di-đà tỉnh Bình Định; bên trái là long vị tổ Tâm Tịnh khai sơn chùa Tây Thiên, và bên phải là long vị tổ Huệ Pháp giáo thọ chùa Thiên Hưng. Phía dưới ba long vị này là long vị của ngài Giác Tiên, thấp hơn nữa là long vị Hòa thượng Thích Mật Hiển; hai bên có di ảnh của hai ngài. Từ tường nhìn ra, hai bên có hai câu đối của cụ Hồ Đắc Trung thân phụ của sư bà Diệu Không đề tặng khi ngài Giác Tiên vừa viên tịch:
Học hạnh khiêm ưu bình tố năng linh nhơn cảnh mộ
Tử sanh vô ngại tu trì định hoạch Phật siêu thăng.
Vị kế Đông sơn phi cụ nhãn yên minh tổ ý
Pháp khai Nam lĩnh thị mê nhơn bất khế Phật tâm.
Bên tả bàn thờ tổ là bàn thờ chư tăng viên tịch, bên hữu thờ di ảnh và bài vị của sư bà Diên Trường và chư ni đệ tử.
Trên bàn thờ tổ có thờ bộ kinh Kim Cang thêu trên gấm. Pháp bảo này do sư bà Diệu Nhàn phát tâm thêu bằng chữ Hán vào đời Cảnh Thịnh thứ 8, có bài tựa do chính vua ngự đề tại thành Thăng Long, được chúa Nguyễn thỉnh về kinh đô Huế để thờ. Bộ kinh này bị thất lạc trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Sau tổ Giác Tiên trên đường hoằng hoá gặp được ở một ngôi chùa làng, ngài xin thỉnh về thờ tại tổ đình Trúc Lâm. Cùng với bộ kinh này là một lư trầm bằng đá có từ đầu triều Nguyễn. Mặt trước lư khắc ba chữ ‘Sơn bảo tự” mặt sau khắc ba chữ “Bát sơn lô” và hai bên có chạm khắc hai bài thơ chữ Hán đường nét rất đẹp, hiện vẫn được dùng xông trầm cúng Phật tại chùa.
Ngoài ra chùa còn giữ một pháp bảo vô cùng trân quý là cái bình bát bằng kim sa của tổ Thạch Liêm Thích Đại Sán, vị trú trì đầu tiên của chùa Thiên Mụ. Sau vì chiến tranh loạn lạc, bình bát này trôi dạt ngoài dân gian cho đến ngày tổ Giác Tiên cũng nhân đi hành hoá ở thôn quê mà gặp được. Biết là bảo vật vô giá, ngài đã kiếm tiền mua về để thọ trì, bình bát được trở lại chốn thiền môn kể từ ngày đó.
Đồi Dương Xuân Thượng nằm lọt thỏm giữa những ngọn đồi và núi bao quanh. Phía bắc giáp dốc Cầu Lim và đàn Nam giao; phía nam giáp đồi lăng mộ cụ thượng thư Hồ Đắc Trung và vùng núi Ngũ Tây, Thần Phù, Phú Bài; phía đông có núi Thiên Thai và vùng núi đá vôi và phía tây có đồi Thiên An, núi Kim Phụng mà xa hơn là dãy Trường sơn Nam. Sườn đồi Dương Xuân hình vòng cung , dưới chân đồi có khe suối uốn khúc chảy từ hướng nam bắc vòng qua dưới Cầu Lim vào địa phận Dương Xuân Hạ trước khi đổ ra sông Hương.
Cách đây hơn nửa thế kỷ về mùa mưa suối chảy xiết nước đổ ầm ầm, đến mùa khô hanh nước cạn dần, suối trở thành khe nước trong vắt ngọt lịm có thể thấy đá cuội dứới lòng khe và những đàn cá nhỏ tung tăng rượt đuổi nhau. Hai bên bờ suối là một dãi cát trắng phau nhất là ở trước mặt tiền của chùa, còn ở nơi khác thì cát chen lẩn với đá cuội đủ màu sắc (từ đen tuyền cho đến trắng bạch, xanh ngọc, xám, nâu vàng tím…) to nhỏ tròn lép hay có những hình thù góc cạnh khác thường trông rất lạ mắt đúng là:
Trước mặt bờ khe phơi cát trắng
Sau lưng chòm núi rợp cây xanh.
Đến thập niên 60 thế kỷ trước, sư ông trù trì chùa Trúc Lâm là Hòa thượng Thích Mật Hiển cho ủi san bằng khu đất trước cổng chùa bên dưới chân đồi và đào sâu xuống thành một cái hồ hình chữ S. Sư ông còn đắp một con đường đi vòng quanh hồ, hai bên bờ trồng trúc, tre la ngà, dương liễu. Mé phải đầu con đường thiền hành này sư ông có cho dựng một cột đá có khắc chữ hình như là ba chữ Trúc Lâm Tự. Lâu ngày cột đá đổ xuống không rõ tấm bia nay còn hay đã mất.
Gần một thế kỷ khi mới lập chùa Trúc Lâm, chổ đó chỉ là một cái am lá thô sơ nằm trong một khu rừng hoang vắng rậm rạp tre trúc dày đặc. Chung quanh am là đồi núi khe suối chia cắt, theo đường chim bay thì từ kinh đô đến chùaTrúc Lâm còn xa hơn chùa Tra Am của sư Viên Thành ở dưới chân núi Ngự Bình. Ít người đến được nơi đây hoặc muốn tới phải băng rừng lội suối vạch lau sậy đi theo lối mòn của tiều phu hay thợ săn.
Đồi Dương Xuân là đất bìa rừng của dãy Trường Sơn, đứng trên núi Ngự Bình hay trên đỉnh Thiên Thai nhìn về phía tây là có thể định vị đỉnh đồi Dương Xuân Thượng nếu như có một tiều phu nào đó đốt củi làm than trên đó.
Tồ khai sơn chùa là Thiền sư Giác Tiên, câu chuyện ngôi chùa được thành lập là một hạnh duyên cực kỳ lý thú :
Nguyên vào mùa xuân năm Ất Mùi (1895) triều Thành Thái, chùa Phổ Quang ở dốc Bến Ngự càng ngày càng hư hỏng. Theo tương truyền là một thảo am của ông Nguyễn Hữu Hào (Đôn Hậu Công Thần Trấn Thủ sinh năm 1642 mất năm 1712 tức anh ruột của Nguyễn Hữu Cảnh ngưởi khai sinh ra thành phố Saigòn) tác giả của một truyên thơ bằng chữ Nôm truyền đời đó là truyện Song Tinh (một tác phẩm văn học cổ nước ta trước cả truyện Hoa Tiên và truyện Kiều hơn một thế kỷ). Lúc ấy, tự trưởng là Chánh Động Đại sư đem ngôi chùa cúng dường cho đại lão hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu. Bấy giờ có một tỳ kheo ni là bà Hồ Thị Nhàn người làng Chuồn ( An Truyền, Phú Vang, Thừa Thiên) con ông Hồ Đắc Tuấn và bà Công Nữ Thức Huấn, cháu ngoại của Tùng Thiện Vương Miên Thẩm. Bà sinh năm 1863 kết duyên cùng ông Nguyễn Đôn Lý, sau ngày chồng mất bà xuất gia thụ giáo với hòa thượng Cương Kỷ chùa Từ Hiếu (1898) pháp danh Thanh Linh hiệu Diên Trường. Bà xin phép đại lão hòa thượng được trùng tu chùa Phổ Quang. Điện Phật, cửa chùa, nhà tăng, buồng bếp, ảnh tượng, đồ thờ được sửa sang trang nghiêm đầy đủ. Bà lại đem chuyện đó tâu lên với đức Thái hoàng Thái hậu Trang Ý Thuận Hiếu xin ban cho hai mẫu ruộng chi dùng vào việc đèn hương… Đấy cũng là thời điểm đang mở đường xe lửa chạy ngang qua dứơi chân đồi của chùa Phổ Quang, nơi ấy trở nên thị tứ ồn ào đông đúc, dân cư tụ tập, chơ búa ghe thuyền tấp nập… nên sư bà Diên Trường tìm đường rẻ lối tới chốn sơn lâm cùng cốc xa hơn lập một thảo am khác để tiếp tục tu hành. Duyên lành đã hạnh ngộ trên đỉnh đồi Dương Xuân là vậy, khi thảo am đã xong sư bà Diên Trường mời sư Giác Tiên về làm trụ trì và sư cũng là tổ khai sơn của chùa Trúc Lâm ngày nay.
Trước khi về nhận chùa, sư Giác Tiên đã cùng sư cụ Diên Trường du hành đó đây. Khi đến Trúc Lâm Yên Tử (một trung tâm Phật Học dứơi triều đại nhà Trần) hai vị đã lưu lại một thời gian, sưu tầm một số pháp bảo quý giá như kinh điển, pháp khí. Trở về Huế, sư đã quyết định đặt tên chùa là Trúc Lâm Đại Thánh, có ý liên hệ với Trúc Lâm tinh xá thời Phật còn tại thế và thiền phái Trúc Lâm ở Yên Tử nước ta do Trúc Lâm Đầu Đà Đại Sĩ (hiệu của vua Trần Nhân Tông) thiết lập.
Tổ khai sơn pháp danh Trừng Thành, tự Chí Thông thuộc dòng Lâm Tế chánh tông đời thứ 42. Sư thế danh Nguyễn Duy Quyển sanh năm 1879 tại làng Dạ Lê Thượng, Thủy Phương, Hương Thủy. Lên 4 tuổi thì song thân mất, phải về ở với ông bà đến năm 11 tuổi (1890) xin xuất gia và được thọ giáo với tổ sư Tâm Tịnh (đời thứ 41 thuộc dòng Lâm Tế, người khai sơn tổ đình Tây Thiên). Đầu tiên ngài được tu học tại tổ đình Từ Hiếu, nơi ngài Hải Thiệu đang làm trụ trì và ngài Tâm Tịnh làm giám tự. Năm 14 tuổi ngài được tổ cho thọ giới Sa-di. Năm 1907, Hòa thượng đàn đầu Vĩnh Gia tổ chức đại giới đàn tại chùa Phước Lâm tỉnh Quảng Nam, ngài được cho đăng đàn thọ cụ túc giới. Tại đây ngài được cử làm thủ chúng Sa-di khi vừa 28 tuổi.
Năm 1918 sư mở đại giới đàn tại chùa Từ Hiếu, mời Hòa thượng Tâm Tịnh làm đàn đầu. Năm 1924 vân tập đại Tăng an cư kiết hạ tại chùa, năm sau sư được chiếu chỉ của triều đình mời làm trú trì ngôi quốc tự Diệu Đế.
Năm 1926, sư cho trùng tu toàn bộ Phật điện và tăng xá chùa Trúc Lâm. Đến năm 1928 ngài biến Trúc Lâm thành nơi đào tạo tăng tài. Năm Kỷ Tỵ 1929, ngài vào Tổ đình Thập Tháp ở Bình Định mời Hòa thượng Phuớc Huệ ra Huế làm chủ giảng. Năm 1930, sư khuyến khích và giúp đỡ sư bà Diệu Hương xây dựng và mở Ni trường Diệu Đức.
Năm 1931, sư là người đầu tiên khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo và vận động thành lập Hội An Nam Phật học, thỉnh nhiều vị thiền sư tài đức về chung lo Phật sự. Năm 1932, nhờ sự giúp đỡ của bà Từ Cung (Đoan Huy Hoàng Thái hậu), vua Bảo Đại cho phép An Nam Phật học hội ra đời do sư đứng đầu, trụ sở đầu tiên đặt tại chùa Trúc Lâm Huế. Năm 1933, sư ủy cử thiền sư Mật Khế vị đệ tử xuất sắc của ngài mở trường An Nam Phật học sơ cấp tại chùa Vạn Phước. Năm 1934 vua Bảo Đại ban sắc chỉ đặt tên chùa là “Sắc tứ Trúc Lâm Đại Thánh tự ”.
Năm 1935, pháp sư Trí Độ đảm nhiệm chức vụ Đốc giáo sau khi trường dời từ chùa Túy Vân (chùa Thánh Duyên) về chùa Báo Quốc. Trong năm này sư cùng đệ tử Mật Khế tổ chức trường An Nam Phật học tại Trúc Lâm, thu nhận 50 học tăng. Đến cuối năm ngài lại quy tụ các học tăng có trình độ cao về Trúc Lâm để mở thêm cấp Đại học Phật giáo, và đó là lớp Đại học Phật giáo đầu tiên có tại miền Trung. Ngoài vị đệ tử lớn của sư là thiền sư Mật Khế, còn có vị đệ tử tại gia rất xuất sắc là Bác sĩ Lê Đình Thám, người đã soạn thảo chương trình tu học cho thanh thiếu niên Phật tử. An Nam Phật học hội đã hơn một lần tổ chức một đại lễ Phật đản lớn chưa từng có ở Huế.
An Nam Phật học hội qui tụ được nhiều nhà tu hành uyên bác như các Thiền sư Mật Khế, Mật Thể, Đôn Hậu, Diệu Hương, Diệu Không... các cư sĩ như Tiến sĩ Đinh Văn Chấp, Nguyễn Khoa Tân, Bửu Bác... và ra báo Viên Âm, tổ chức các buổi thuyết pháp, dịch Kinh sách
Ngày 2 tháng 10 năm Bính Tý, sư cho quy tụ đồ chúng để nghe giảng kinh Pháp Bảo Đàn. Hai hôm sau khi giảng xong phẩm Bát nhã, sư nhìn từng đệ tử để truyền kệ và vào lúc 20 giờ ngày mùng 4 tháng 10 niên hiệu Bảo Đại thứ 11 (tức ngày 17.11.1936) sư thị tịch lúc 57 tuổi trong lúc đang đảm nhận trách vụ trú trì hai tổ đình Trúc Lâm - Diệu Đế và chứng minh đạo sư cho hội An Nam Phật học.
Với công hạnh và đức độ của sư, ngài Tâm Tịnh đã phó pháp bài kệ sau :
Giác đạo kiếp không Tiên
Không không bát nhã thuyền
Quả nhân phù hạnh giải
Xứ xứ tức an nhiên.
(Đường giác kiếp không trước, thuyền bát nhã không không, hạnh giải hợp nhân quả, ở đâu cũng thong dong).
Nguyễn Lang viết : “Thiền sư Giác Tiên có thể gọi là người đã khởi xướng phong trào chấn hưng Phật giáo miền Trung. Thiền sư hướng đạo cho hội An Nam Phật học được bốn năm thì viên tịch. Các đệ tử của ngài là thiền sư Mật Khế, Mật Hiển, Mật Nguyện và Mật Thể đều đóng những vai trò quan trọng trong phong trào chấn hưng Phật giáo sau này”.
Thiền sư Mật Khế là một trong những đại đệ tử của sư Giác Tiên. Sư là con ông Khóa họ Lê ở Thần Phù và bà Nguyễn Thị Lài người làng Cầu Ngói Thanh Toàn. Xuất gia từ năm lên 7 tuổi sau khi cha qua đời, sư là một người thông minh lanh lợi làu thông kinh sử ngay từ thuờ niên thiếu được mọi người trong chùa gọi là chú tiểu Nam. Năm 20 – 22 tuổi khi đang tu học ở chùa Thánh Duyên - Túy Vân (quê hương của đức Từ Cung, mẹ vua Bảo Đại). Bà Từ Cung nghe tiếng sư là người uyên bác nên cho vời sư vào cung để thuyết giảng phật pháp.
Thiền Sư Mật Khế qua đời khi còn rất trẻ khoảng 30 tuổi vì bị viêm phúc mạc do viêm ruột thừa, hiện tại thiền sư còn một người em gái là cụ bà Hồ Thị Huyền vợ của ông Ưng Úy (thượng thư bộ Lễ) và bà đang sống tại Tp HCM.
Thiền sư Mật Thể thế danh là Nguyễn hữu Kê người làng Nguyệt Biều (Hương Thủy, Thừa Thiên) sinh năm 1912, xuất gia năm 12 tuổi, tu học tại chùa Diệu Hỷ, Từ Quang, Trúc Lâm. Năm 1930, được Hòa Thượng Giác Tiên nhận làm đệ tử pháp danh Tâm Nhất, hiệu Mật Thể. Năm 1937 sang Trung Quốc học ỡ Phật Học Viện Tiêu Sơn, năm 1941 dạy tại Phật học đường Lữơng Xuyên Trà Vinh, năm 1944 làm trụ trì chùa Phổ Quang ở Huế và mất năm 1961 tại Nghệ An.
Thiền sư Mật Hiển là vị Hòa thượng trụ trì chùa Trúc Lâm lâu nhất, mất năm 1992 là ngươi có công nhiều nhất trùng tu và xây dựng chùa Trúc Lâm để có được dáng vẻ như ngày hôm nay.
Từ thành phố Huế xe đi qua cầu Nam Giao vào con dường thẳng mà không bằng ấy đến đàn rẽ trái vượt qua cầu Lim găp một con đường đất bên trái đi thêm khoảng 500 mét là đến cổng chùa. Chỉ mất chừng nửa giờ đi xe là đến nơi, con đường đá vàng cát trắng quanh co ngày xưa mà bác sĩ Lê Đình Thám đã từng mô tả :
Đường Trúc Lâm đá vàng cát trắng,
Cảnh Trúc Lâm, cảnh vắng người thanh
Dòng khe lượn khúc như tranh
Rừng cây rợp bóng tươi xanh bốn mùa.
Thoạt đầu để mở được con đường quả thật là cam go vì khu vực này còn là rừng nguyên sinh, cây cối tre trúc um tùm ít bóng ngươi lai vãng. Đất đai chưa có ai khai phá có rất nhiều đoạn phải xẻ núi bởi triền đồi Dương Xuân Thượng có độ dốc khá dựng đứng bên phải là vực sâu có giòng khe nước chảy xiết nhất là mùa mưa bão.
Một trăm năm trước nhà chùa chỉ làm được một lối mòn ven triền đồi để đi lại, xe ngựa không thể vào đây được (dấu tích nay vẫn còn thấy). Sau những đợt trùng tu chùa vào các năm 1926, 1942, 1968, 1992 con đường mới được rộng rãi như hôm nay.
Qua vuông sân nhỏ, du khách đến trước chánh điện kiến trúc theo kiểu Á Đông. Mái cong lợp ngói đỏ có gắn long, lân, quy, phụng trên nóc và chia làm ba phần : phía trước là tiền đường, giữa là chánh điện, sau là hậu tổ. Tiền đường tả hữu là lầu chuông trống, chánh điện bên trong khám thờ đức Bổn sư, bên trái có ngài Ca-diếp đứng cầm hoa sen miệng mỉm cười, bên phải có ngài A-nan tay bưng bình bát như đang chờ đợi đệ tử kế thừa. Ở tầng kế tiếp thờ đức Phật Dược sư, hai bên có đức Quan Âm và Địa Tạng. Phía trước tầng này là bàn để chuông mõ. Trên tường có treo bức hoành sơn son thếp vàng bảy chữ “Sắc tứ Trúc Lâm đại thánh tự” và dòng chữ nhỏ “Bảo Đại bát niên cát nhật tạo”.
Gian bên trái phía trên thờ ngài Văn-thù-sư-lợi, bàn thấp hơn thờ đức Quan Thế Âm, cạnh bên trái sát tường là tôn tượng ngài Tỳ-ni-đa-lưu-chi. Gian bên phải phía trên thờ ngài Phổ-hiền, thấp hơn là bàn thờ ngài Đại Thế Chí, cạnh tường là tôn ảnh của ngài Thạch Liêm Thích Đại Sán. Phía ngoài là hai bàn Tiêu Diện và Hộ Pháp đối diện nhau.
Hậu Tổ cách chánh điện bằng một bức tường ván sơn trắng nhạt. Gian giữa thờ di ảnh tổ Giác Tiên bằng sơn mài lọng kiếng, trên bàn thờ có ba long vị: ở giữa là long vị của tổ Phước Huệ chùa Thập Tháp Di-đà tỉnh Bình Định; bên trái là long vị tổ Tâm Tịnh khai sơn chùa Tây Thiên, và bên phải là long vị tổ Huệ Pháp giáo thọ chùa Thiên Hưng. Phía dưới ba long vị này là long vị của ngài Giác Tiên, thấp hơn nữa là long vị Hòa thượng Thích Mật Hiển; hai bên có di ảnh của hai ngài. Từ tường nhìn ra, hai bên có hai câu đối của cụ Hồ Đắc Trung thân phụ của sư bà Diệu Không đề tặng khi ngài Giác Tiên vừa viên tịch:
Học hạnh khiêm ưu bình tố năng linh nhơn cảnh mộ
Tử sanh vô ngại tu trì định hoạch Phật siêu thăng.
Vị kế Đông sơn phi cụ nhãn yên minh tổ ý
Pháp khai Nam lĩnh thị mê nhơn bất khế Phật tâm.
Bên tả bàn thờ tổ là bàn thờ chư tăng viên tịch, bên hữu thờ di ảnh và bài vị của sư bà Diên Trường và chư ni đệ tử.
Trên bàn thờ tổ có thờ bộ kinh Kim Cang thêu trên gấm. Pháp bảo này do sư bà Diệu Nhàn phát tâm thêu bằng chữ Hán vào đời Cảnh Thịnh thứ 8, có bài tựa do chính vua ngự đề tại thành Thăng Long, được chúa Nguyễn thỉnh về kinh đô Huế để thờ. Bộ kinh này bị thất lạc trong thời Trịnh Nguyễn phân tranh. Sau tổ Giác Tiên trên đường hoằng hoá gặp được ở một ngôi chùa làng, ngài xin thỉnh về thờ tại tổ đình Trúc Lâm. Cùng với bộ kinh này là một lư trầm bằng đá có từ đầu triều Nguyễn. Mặt trước lư khắc ba chữ ‘Sơn bảo tự” mặt sau khắc ba chữ “Bát sơn lô” và hai bên có chạm khắc hai bài thơ chữ Hán đường nét rất đẹp, hiện vẫn được dùng xông trầm cúng Phật tại chùa.
Ngoài ra chùa còn giữ một pháp bảo vô cùng trân quý là cái bình bát bằng kim sa của tổ Thạch Liêm Thích Đại Sán, vị trú trì đầu tiên của chùa Thiên Mụ. Sau vì chiến tranh loạn lạc, bình bát này trôi dạt ngoài dân gian cho đến ngày tổ Giác Tiên cũng nhân đi hành hoá ở thôn quê mà gặp được. Biết là bảo vật vô giá, ngài đã kiếm tiền mua về để thọ trì, bình bát được trở lại chốn thiền môn kể từ ngày đó.
Xứ cồn hến - Huế
Du Lịch Huế - Nổi lên giữa biển khơi là đảo. Còn dải đất bồi tụ mọc lên giữa lòng sông thì người đời lại quen gọi là cồn hay còn một tên gọi nữa là cù lao. Cồn vì thế cũng là đảo, đảo nhỏ trên sông, nằm gọn gàng trong đất liền. Cũng vì đảo rộng lớn nên bằng mắt thường khó mà tường tận. Còn cồn, nó trọn vẹn, gần gũi đến lạ lùng trong tầm mắt của ta.

Cồn Hến. by Che Trung Hieu - Internet
Tôi đã có được cái cảm giác tuyệt vời kia khi buổi sáng tinh mơ đứng tựa mình nơi lan can của cầu Trường Tiền bắc qua con sông Hương huyền thoại. Nhìn về phía dưới là cồn Hến, một sắc màu xanh trong, thấp thoáng bóng hình ai đó, chênh vênh giữa hai dòng nước. Còn ngược lên phía trên là Dã Viên cồn. Nó sừng sững giữa nước - trời, một cảm giác tựa hồ vững chãi khi bao bọc đằng sau phía xa xa là núi đồi nhấp nhô.

Ảnh sưu tầm: Internet
Nơi ngã ba Tuần hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch gặp nhau để hình thành nên dòng Hương trong xanh lững lờ, nhẹ nhàng chảy qua kinh thành Huế. Cũng bởi sự lắng đọng lạ kỳ kia mà phù sa bồi tụ nên hình, nên vẻ cồn Dã Viên và cồn Hến. Để rồi dưới cái nhìn của người xưa trong hành trình mở cõi về phương Nam, tìm đất định đô gầy dựng nghiệp lớn, đôi cồn này hợp thành một thế phong thuỷ tuyệt vời “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” canh giữ Kinh thành Huế. Một quà tặng vô giá của thiên nhiên.
Cái tên cồn Dã Viên cũng chính là hổ trắng, là Bạch Hổ. Và người xưa đã tỏ ra có con mắt tinh tường khi từng biến nơi đây thành một vườn hoa (vườn ngự) gắn liền với bài thơ nổi tiếng “Dữ dã viên ký” do chính vị vua chữ tốt văn hay là Tự Đức chắp bút.
Còn cái tên cồn Hến thì lại khác. Nó không chỉ là rồng xanh (thanh long) trong vế đối kia mà còn gắn liền sự tích dân gian, với cuộc sống đời thường. Chuyện xưa kể rằng, một thời hai khe nước giữa cồn được phù sa sông Hương bồi đắp cạn dần nên được gọi là “xứ cồn cạn”. Ở đây có đặc sản là con hến nhiều vô kể và ngon đến vô cùng, đó chính là cơ sở để hình thành nên nghề cào hến để có đọi cơm hến, một biểu tượng tuyệt vời của văn hoá ẩm thực xứ thần kinh.
Sử sách cũng thật ngọn nguồn khi chép lại rằng, người đầu tiên đến làm nghề cào hến ở đây là ông Huỳnh Tương, một người dân ở Diên Đại, Phú Vang. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát xây dựng phủ chúa ở Phú Xuân, đã cho dựng chòi gần đầu múi cồn ở phía trên. Sang đời vua Gia Long, phường Giang Hến ra đời trên “xứ cồn cạn” và đảo nhỏ này bắt đầu được gọi là cồn Hến.
Vạn đò ngã ba Cồn hến - Hình sưu tầm - Internet
Dù vẫn yên ắng như cồn Dã Viên hay đã bắt đầu có sự ồn ào trong sinh hoạt và làm ăn như ở cồn Hến, nhưng đôi cồn này vẫn đang nguyên vẹn vẻ đẹp vốn có, là thắng cảnh bậc nhất giữa dòng Hương Giang. Cái xứ Huế mình thật lạ lùng. Nó là nơi được tạo hoá ban tặng bao của báu đất trời. Đôi cồn Dã Viên và cồn Hến là một trong những số đó. Nó hợp cùng với Hương Giang, Ngự Bình hay với những cánh đồng quê ven Huế, còn phá Tam Giang và cửa Thuận An tạo nên biểu tượng và nỗi nhớ Huế da diết, khôn nguôi. Và tôi lại nghĩ về Huế mình, bên cạnh những danh xưng lớn là miền di sản, là đất Thần kinh cũng còn là một xứ cồn đượm vẻ hoang sơ, gần gũi và thân thương nhưng lại như một đối trọng đẹp với kinh thành lộng lẫy để tạo nên một xứ Huế chẳng nơi nào có được…
Cồn Hến. by Che Trung Hieu - Internet
Tôi đã có được cái cảm giác tuyệt vời kia khi buổi sáng tinh mơ đứng tựa mình nơi lan can của cầu Trường Tiền bắc qua con sông Hương huyền thoại. Nhìn về phía dưới là cồn Hến, một sắc màu xanh trong, thấp thoáng bóng hình ai đó, chênh vênh giữa hai dòng nước. Còn ngược lên phía trên là Dã Viên cồn. Nó sừng sững giữa nước - trời, một cảm giác tựa hồ vững chãi khi bao bọc đằng sau phía xa xa là núi đồi nhấp nhô.
Ảnh sưu tầm: Internet
Nơi ngã ba Tuần hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch gặp nhau để hình thành nên dòng Hương trong xanh lững lờ, nhẹ nhàng chảy qua kinh thành Huế. Cũng bởi sự lắng đọng lạ kỳ kia mà phù sa bồi tụ nên hình, nên vẻ cồn Dã Viên và cồn Hến. Để rồi dưới cái nhìn của người xưa trong hành trình mở cõi về phương Nam, tìm đất định đô gầy dựng nghiệp lớn, đôi cồn này hợp thành một thế phong thuỷ tuyệt vời “Tả Thanh Long, hữu Bạch Hổ” canh giữ Kinh thành Huế. Một quà tặng vô giá của thiên nhiên.
Cái tên cồn Dã Viên cũng chính là hổ trắng, là Bạch Hổ. Và người xưa đã tỏ ra có con mắt tinh tường khi từng biến nơi đây thành một vườn hoa (vườn ngự) gắn liền với bài thơ nổi tiếng “Dữ dã viên ký” do chính vị vua chữ tốt văn hay là Tự Đức chắp bút.
Còn cái tên cồn Hến thì lại khác. Nó không chỉ là rồng xanh (thanh long) trong vế đối kia mà còn gắn liền sự tích dân gian, với cuộc sống đời thường. Chuyện xưa kể rằng, một thời hai khe nước giữa cồn được phù sa sông Hương bồi đắp cạn dần nên được gọi là “xứ cồn cạn”. Ở đây có đặc sản là con hến nhiều vô kể và ngon đến vô cùng, đó chính là cơ sở để hình thành nên nghề cào hến để có đọi cơm hến, một biểu tượng tuyệt vời của văn hoá ẩm thực xứ thần kinh.
Sử sách cũng thật ngọn nguồn khi chép lại rằng, người đầu tiên đến làm nghề cào hến ở đây là ông Huỳnh Tương, một người dân ở Diên Đại, Phú Vang. Thời chúa Nguyễn Phúc Khoát xây dựng phủ chúa ở Phú Xuân, đã cho dựng chòi gần đầu múi cồn ở phía trên. Sang đời vua Gia Long, phường Giang Hến ra đời trên “xứ cồn cạn” và đảo nhỏ này bắt đầu được gọi là cồn Hến.
Vạn đò ngã ba Cồn hến - Hình sưu tầm - Internet
Dù vẫn yên ắng như cồn Dã Viên hay đã bắt đầu có sự ồn ào trong sinh hoạt và làm ăn như ở cồn Hến, nhưng đôi cồn này vẫn đang nguyên vẹn vẻ đẹp vốn có, là thắng cảnh bậc nhất giữa dòng Hương Giang. Cái xứ Huế mình thật lạ lùng. Nó là nơi được tạo hoá ban tặng bao của báu đất trời. Đôi cồn Dã Viên và cồn Hến là một trong những số đó. Nó hợp cùng với Hương Giang, Ngự Bình hay với những cánh đồng quê ven Huế, còn phá Tam Giang và cửa Thuận An tạo nên biểu tượng và nỗi nhớ Huế da diết, khôn nguôi. Và tôi lại nghĩ về Huế mình, bên cạnh những danh xưng lớn là miền di sản, là đất Thần kinh cũng còn là một xứ cồn đượm vẻ hoang sơ, gần gũi và thân thương nhưng lại như một đối trọng đẹp với kinh thành lộng lẫy để tạo nên một xứ Huế chẳng nơi nào có được…
Saturday, May 2, 2015
Quần thể di tích Cố đô Huế
Du Lịch Huế - Vị trí địa lý : Quần thể di tích Cố đô Huế nằm dọc hai bên bờ sông Hương thuộc thành phố Huế và một vài vùng phụ cận thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Thành phố Huế là trung tâm văn hoá, chính trị, kinh tế của tỉnh, là cố đô của Việt Nam thời phong kiến dưới triều nhà Nguyễn, từ 1802 đến 1945.
Từ năm 1306, sau cuộc hôn phối giữa công chúa Huyền Trân (Nhà Trần) với vua Chàm là Chế Mân, vùng đất Châu Ô, Châu Lý (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một phần của Bắc Quảng Nam ngày nay) được lấy tên là Thuận Hoá. Vào nửa cuối thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông, địa danh Huế lần đầu tiên xuất hiện (?). Năm 1636 phủ Chúa Nguyễn đặt ở Kim Long (Huế), tới năm 1687 dời về Phú Xuân - thành Nội Huế ngày nay. Vào những năm đầu của thế kỷ 18, Phú Xuân là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của xứ "Đàng Trong". Từ năm 1788 đến 1801, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn.
Từ 1802 đến 1945, Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn. Cũng vào thời gian này, tại đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hoá có giá trị mà tiêu biểu là kinh thành Huế, đặc biệt là khu Đại Nội (có 253 công trình), 7 cụm lăng tẩm của 9 vị vua Nguyễn, đàn Nam Giao, Hổ Quyền, điện Hòn Chén.

Giá trị văn hóa
Bên bờ Bắc của con sông Hương, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn là ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh...
Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.
Xuyên suốt cả ba tòa thành, con đường Thần đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan yếu nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Ðình, Phu Văn Lâu, Kỳ Ðài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung... Hai bên đường Thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một cảm giác nhẹ nhàng thanh thản.

Xa xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hóa. Kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam.
Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Ðức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...
Ngoài ra, những địa danh tô điểm thêm nét đẹp của quần thể di tích Cố đô Huế có thể kể đến là: Sông Hương, Núi Ngự, Chùa Thiên Mụ, Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An...
Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới, Colombia từ ngày 6 đến 11/12/1993, UNESCO đã quyết định công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá của nhân loại. Một sự kiện trọng đại trong lịch sử văn hoá Việt Nam, tài sản đầu tiên của Việt Nam được ghi tên vào danh mục Di sản thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế.
Quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí số 4, đã hội đủ các yếu tố:
- Tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng.
- Có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc trong một kế hoạch phát triển đô thị hay một chương trình làm đẹp cảnh quan tại một khu vực văn hoá của thế giới;
- Một quần thể kiến trúc tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử quan trọng.
- Kết hợp chặt chẽ với các sự kiện trọng đại, những tư tưởng hay tín ngưỡng có ảnh hưởng lớn, hay với các danh nhân lịch sử.
Từ năm 1306, sau cuộc hôn phối giữa công chúa Huyền Trân (Nhà Trần) với vua Chàm là Chế Mân, vùng đất Châu Ô, Châu Lý (gồm Quảng Trị, Thừa Thiên Huế và một phần của Bắc Quảng Nam ngày nay) được lấy tên là Thuận Hoá. Vào nửa cuối thế kỷ 15, thời vua Lê Thánh Tông, địa danh Huế lần đầu tiên xuất hiện (?). Năm 1636 phủ Chúa Nguyễn đặt ở Kim Long (Huế), tới năm 1687 dời về Phú Xuân - thành Nội Huế ngày nay. Vào những năm đầu của thế kỷ 18, Phú Xuân là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hoá của xứ "Đàng Trong". Từ năm 1788 đến 1801, Phú Xuân trở thành kinh đô của triều đại Tây Sơn.
Từ 1802 đến 1945, Huế là kinh đô của nước Việt Nam thống nhất dưới sự trị vì của 13 đời vua nhà Nguyễn. Cũng vào thời gian này, tại đây đã hình thành các công trình kiến trúc lịch sử văn hoá có giá trị mà tiêu biểu là kinh thành Huế, đặc biệt là khu Đại Nội (có 253 công trình), 7 cụm lăng tẩm của 9 vị vua Nguyễn, đàn Nam Giao, Hổ Quyền, điện Hòn Chén.
Giá trị văn hóa
Bên bờ Bắc của con sông Hương, hệ thống kiến trúc biểu thị cho quyền uy của chế độ trung ương tập quyền Nguyễn là ba tòa thành: Kinh thành Huế, Hoàng thành Huế, Tử cấm thành Huế, lồng vào nhau được bố trí đăng đối trên một trục dọc xuyên suốt từ mặt Nam ra mặt Bắc. Hệ thống thành quách ở đây là một mẫu mực của sự kết hợp hài hòa nhuần nhuyễn giữa tinh hoa kiến trúc Đông và Tây, được đặt trong một khung cảnh thiên nhiên kỳ tú với nhiều yếu tố biểu tượng sẵn có tự nhiên đến mức người ta mặc nhiên xem đó là những bộ phận của Kinh thành Huế - đó là núi Ngự Bình, dòng Hương Giang, cồn Giã Viên, cồn Bộc Thanh...
Hoàng thành giới hạn bởi một vòng tường thành gần vuông với mỗi chiều xấp xỉ 600m với 4 cổng ra vào mà độc đáo nhất thường được lấy làm biểu tượng của Cố đô: Ngọ Môn, chính là khu vực hành chính tối cao của triều đình Nguyễn. Bên trong Hoàng thành, hơi dịch về phía sau, là Tử cấm thành - nơi ăn ở sinh hoạt của Hoàng gia.
Xuyên suốt cả ba tòa thành, con đường Thần đạo chạy từ bờ sông Hương mang trên mình những công trình kiến trúc quan yếu nhất của Kinh thành Huế: Nghinh Lương Ðình, Phu Văn Lâu, Kỳ Ðài, Ngọ Môn, điện Thái Hòa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, cung Khôn Thái, lầu Kiến Trung... Hai bên đường Thần đạo này là hàng trăm công trình kiến trúc lớn nhỏ bố trí cân đối đều đặn, đan xen cây cỏ, chập chờn khi ẩn khi hiện giữa những sắc màu thiên nhiên, luôn tạo cho con người một cảm giác nhẹ nhàng thanh thản.
Xa xa về phía Tây của Kinh thành, nằm hai bên bờ sông Hương, lăng tẩm của các vua Nguyễn được xem là những thành tựu của nền kiến trúc cảnh vật hóa. Kiến trúc lăng tẩm ở đây mang một phong thái hoàn toàn riêng biệt của Việt Nam.
Mỗi lăng vua Nguyễn đều phản ánh cuộc đời và tính cách của vị chủ nhân đang yên nghỉ: lăng Gia Long mộc mạc nhưng hoành tráng giữa núi rừng trùng điệp khiến người xem cảm nhận được hùng khí của một chiến tướng từng trải trăm trận; lăng Minh Mạng uy nghi bình chỉnh đăng đối giữa rừng núi hồ ao được tôn tạo khéo léo, hẳn có thể thấy được hùng tâm đại chí của một chính trị gia có tài và tính cách trang nghiêm của một nhà thơ quy củ; lăng Thiệu Trị thâm nghiêm, vừa thâm trầm u uẩn giữ chốn đồng không quạnh quẽ, cũng thể hiện phần nào tâm sự của một nhà thơ siêu việt trên văn đàn song không nối được chí tiền nhân trong chính sự; lăng Tự Ðức thơ mộng trữ tình được tạo nên chủ yếu bằng sự tinh tế của con người, phong cảnh nơi đây gợi cho du khách hình ảnh của một tao nhân mang nặng nỗi niềm trắc ẩn bởi tâm huyết của một nhà vua không thực hiện được qua tính cách yếu ớt của một nhà thơ...
Ngoài ra, những địa danh tô điểm thêm nét đẹp của quần thể di tích Cố đô Huế có thể kể đến là: Sông Hương, Núi Ngự, Chùa Thiên Mụ, Bạch Mã, Lăng Cô, Thuận An...
Tại phiên họp lần thứ 17 của Uỷ ban Di sản thế giới, Colombia từ ngày 6 đến 11/12/1993, UNESCO đã quyết định công nhận quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hoá của nhân loại. Một sự kiện trọng đại trong lịch sử văn hoá Việt Nam, tài sản đầu tiên của Việt Nam được ghi tên vào danh mục Di sản thế giới, khẳng định giá trị mang tính toàn cầu của quần thể di tích Cố đô Huế.
Quần thể di tích Cố đô Huế là di sản văn hóa thế giới theo tiêu chí số 4, đã hội đủ các yếu tố:
- Tiêu biểu cho những thành tựu nghệ thuật độc đáo, những kiệt tác do bàn tay con người tạo dựng.
- Có giá trị to lớn về mặt kỹ thuật xây dựng, nghệ thuật kiến trúc trong một kế hoạch phát triển đô thị hay một chương trình làm đẹp cảnh quan tại một khu vực văn hoá của thế giới;
- Một quần thể kiến trúc tiêu biểu của một thời kỳ lịch sử quan trọng.
- Kết hợp chặt chẽ với các sự kiện trọng đại, những tư tưởng hay tín ngưỡng có ảnh hưởng lớn, hay với các danh nhân lịch sử.
Lăng Thiệu Trị (Xương lăng)
Du Lịch Huế - Lăng Thiệu Trị nằm ở địa phận làng Cư Chánh, xã Thủy Bằng, huyện Hương Thủy, cách Kinh thành chừng 8km. Ở ngôi vua được 7 năm, vua Thiệu Trị lâm bệnh mất ngày 4-11-1847 (thọ 41 tuổi). Sinh thời, nhà vua chưa nghĩ đến cái chết của mình và không muốn binh, dân hao tổn quá nhiều sức lực và của cải, nên ông chưa xây cất sơn lăng.

Vừa lên kế vị, vua Tự Đức đã sai các thầy địa lý trong triều đình đi tìm đất xây lăng. Quá trình xây dựng Xương Lăng diễn ra nhanh chóng và gấp rút, chỉ sau 3 tháng thi công các công trình chủ yếu đã hoàn thành. Ngày 14-6-1848 vua Tự Đức lên Xương lăng kiểm tra lần cuối. 10 ngày sau, thi hài cua Thiệu Trị được đưa vào an táng trong lăng, sau 8 tháng quan trong điện Long An ở cung Bảo Định. Vua Tự Đức viết bài văn bia dài trên 2500 chữ, khắc trên tấm bia “Thánh Đức thần công”, dựng vào ngày 19-11-1848 để ca ngợi công đức của vua cha. Như vậy, từ ngày bắt đầu (11-2-1848) đến ngày hoàn tất, lăng Thiệu Trị được thi công trong vòng chưa đầy 10 tháng.
Lăng Thiệu Trị xưa
Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và Minh Mạng. Xương lăng giống với Thiên thọ lăng (lăng Gia Long) ở chỗ không có la thành khu vực lăng mộ và tẩm điện biệt lập, song song với nhau. Xương lăng giống Hiếu lăng (lăng Minh Mạng) ở chỗ cách thức mai táng với việc xây dựng toại đạo (đường hầm đưa quan tài vào huyệt mộ) Bửu thành hình tròn với hồ Ngưng Thúy hình bán nguyệt bao bọc Bửu Thành, các cầu bằng đá, nghi môn, nghê đồng… Lăng gồm hai khu vực: lăng và tẩm. Phần lăng nằm ở bên phải, trước có hồ Nhuận Trạch thông với hồ Điện. Sau hồ Nhuận Trạch là nghi môn bằng đồng dẫn vào Bái đình rộng lớn. Hai hàng tượng đá ở hai bên tả hữu của sân là tiêu biểu của nghệ thuật tạc tượng nữa đầu thế kỷ XIX, ở Huế. Tiếp đến là Bi đình và lầu Đức Hinh tọa trên quả đồi cong dạng mai rùa. Hồ Ngưng Thúy như vầng trăng non án ngữ trước Bửu Thành. Bắc qua hồ có 3 cầu: Chánh Trung (giữa), Đông Hòa (phải), Tây Định (trái), nơi dẫn đến tam cấp vào Bửu thành – chô đặt thi hài vua. Phía phải của lăng có gác Hiển Quang – nơi nghỉ ngơi suy tưởng của vua ở cõi âm.
Thần vị vua Thiệu Trị
Khu vực điện thờ được xây dựng riêng, cách lầu Đức Hinh 100m về phía trái. Qua Nghi môn bằng đá cẩm thạch, bước lên ba bậc tam cấp dẫn vào khu vực điện Biểu Đức – nơi thờ bài vị của vua và bà Từ Dũ. Trong chính điệ, trên những cỗ diểm ở bộ mái và ở cửa Hồng Trạch có khắc trên 450 ô chữ chạm khắc các bài thơ có giá trị văn học và giáo dục. Các công trình phụ thuộc như Tả, Hữu Phối điện (trước), Tả, Hữu Tùng viện (sau) quây quần xung quanh điện Biểu Đức càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm của chính điện.

Lăng vua Thiệu Trị
Lăng Thiệu Trị dựa lưng vào chân núi Thuận Đạo, gần trước mặt lăng là cả một vùng đất bằng phẳng với cây cối xanh tươi và ruộng đồng mơn mởn trải dài từ bờ sông Hương tới tận cầu Lim. Vua Thiệu Trị nằm đó, yên giấc ngàn thu trong cảnh thanh bình của đồng quê và sự quây quần của quyến thuộc. Chếch về phía phải trước lăng có lăng Hiếu Đông của mẹ vua (bà Hồ Thị Hoa). Phía sau, bên trái là Xương Thọ lăng của bà Từ Dũ (vợ vua). Cách không xa về phía trước là khu lăng “tảo thương”, nơi có nhiều ngôi mộ của các con vua Thiệu Trị chết lúc còn nhỏ. Tất cả quây quần, đoàn tụ quanh đấy với vẻ đẹp giản đơn, gần gũi…
Vừa lên kế vị, vua Tự Đức đã sai các thầy địa lý trong triều đình đi tìm đất xây lăng. Quá trình xây dựng Xương Lăng diễn ra nhanh chóng và gấp rút, chỉ sau 3 tháng thi công các công trình chủ yếu đã hoàn thành. Ngày 14-6-1848 vua Tự Đức lên Xương lăng kiểm tra lần cuối. 10 ngày sau, thi hài cua Thiệu Trị được đưa vào an táng trong lăng, sau 8 tháng quan trong điện Long An ở cung Bảo Định. Vua Tự Đức viết bài văn bia dài trên 2500 chữ, khắc trên tấm bia “Thánh Đức thần công”, dựng vào ngày 19-11-1848 để ca ngợi công đức của vua cha. Như vậy, từ ngày bắt đầu (11-2-1848) đến ngày hoàn tất, lăng Thiệu Trị được thi công trong vòng chưa đầy 10 tháng.
Lăng Thiệu Trị xưa
Tổng thể kiến trúc của lăng Thiệu Trị là sự kết hợp và chọn lọc từ mô thức kiến trúc của lăng Gia Long và Minh Mạng. Xương lăng giống với Thiên thọ lăng (lăng Gia Long) ở chỗ không có la thành khu vực lăng mộ và tẩm điện biệt lập, song song với nhau. Xương lăng giống Hiếu lăng (lăng Minh Mạng) ở chỗ cách thức mai táng với việc xây dựng toại đạo (đường hầm đưa quan tài vào huyệt mộ) Bửu thành hình tròn với hồ Ngưng Thúy hình bán nguyệt bao bọc Bửu Thành, các cầu bằng đá, nghi môn, nghê đồng… Lăng gồm hai khu vực: lăng và tẩm. Phần lăng nằm ở bên phải, trước có hồ Nhuận Trạch thông với hồ Điện. Sau hồ Nhuận Trạch là nghi môn bằng đồng dẫn vào Bái đình rộng lớn. Hai hàng tượng đá ở hai bên tả hữu của sân là tiêu biểu của nghệ thuật tạc tượng nữa đầu thế kỷ XIX, ở Huế. Tiếp đến là Bi đình và lầu Đức Hinh tọa trên quả đồi cong dạng mai rùa. Hồ Ngưng Thúy như vầng trăng non án ngữ trước Bửu Thành. Bắc qua hồ có 3 cầu: Chánh Trung (giữa), Đông Hòa (phải), Tây Định (trái), nơi dẫn đến tam cấp vào Bửu thành – chô đặt thi hài vua. Phía phải của lăng có gác Hiển Quang – nơi nghỉ ngơi suy tưởng của vua ở cõi âm.
Thần vị vua Thiệu Trị
Khu vực điện thờ được xây dựng riêng, cách lầu Đức Hinh 100m về phía trái. Qua Nghi môn bằng đá cẩm thạch, bước lên ba bậc tam cấp dẫn vào khu vực điện Biểu Đức – nơi thờ bài vị của vua và bà Từ Dũ. Trong chính điệ, trên những cỗ diểm ở bộ mái và ở cửa Hồng Trạch có khắc trên 450 ô chữ chạm khắc các bài thơ có giá trị văn học và giáo dục. Các công trình phụ thuộc như Tả, Hữu Phối điện (trước), Tả, Hữu Tùng viện (sau) quây quần xung quanh điện Biểu Đức càng tăng thêm vẻ tôn nghiêm của chính điện.
Lăng vua Thiệu Trị
Lăng Thiệu Trị dựa lưng vào chân núi Thuận Đạo, gần trước mặt lăng là cả một vùng đất bằng phẳng với cây cối xanh tươi và ruộng đồng mơn mởn trải dài từ bờ sông Hương tới tận cầu Lim. Vua Thiệu Trị nằm đó, yên giấc ngàn thu trong cảnh thanh bình của đồng quê và sự quây quần của quyến thuộc. Chếch về phía phải trước lăng có lăng Hiếu Đông của mẹ vua (bà Hồ Thị Hoa). Phía sau, bên trái là Xương Thọ lăng của bà Từ Dũ (vợ vua). Cách không xa về phía trước là khu lăng “tảo thương”, nơi có nhiều ngôi mộ của các con vua Thiệu Trị chết lúc còn nhỏ. Tất cả quây quần, đoàn tụ quanh đấy với vẻ đẹp giản đơn, gần gũi…
Subscribe to:
Posts (Atom)